Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số Thủy sản 2014 (2014) Trang: 239-247
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận: 10/6/2014

Ngày chấp nhận: 04/8/2014

 

Title:

Zoobenthos composition on the Hau River

Từ khóa:

Động vật đáy, các chỉ số đa dạng, quan trắc sinh học

Keywords:

Zoobenthos, diversity indices, bioassessment

ABSTRACT

The study of zoobenthos composition on the HauRiverwas conducted in the rainy season with two sampling periods (June, 2013 and September, 2013) at 22 sites in which 7 sites were in the main stream and 15 sites in its tributaries. The results showed that total of 61 species belonging to 6 groups were recorded. Among them, Gastropoda was the most diverse group (with 26 species, accounting for 43%), and the rest consisted of 3 to 16 species, accounting for 5-28%. Difference in species composition between the main stream and its tributaries was not found in both sampling periods. However, species number of zoobenthos in the first sampling period was higher than that in the second one in both main stream and its tributaries, whereas their density was in the inverse trend. Density ranged from 67 to 3,450 ind.m-2 in the main stream and from 67 to 13,187 ind.m-2 in its tributaries. The Shannon-Weaver (H?) and Margalef (d) indices were from 0.4 to 2.8 and from 0.3 to 3.2, respectively. Similarity of zoobenthos composition between the main stream and its tributaries was high. These parameters indicated that pollution level of the research sites onHauRiver was from average to very high. In addition, the results of this research would be used as database for development of a bioassessment program on the Hau River.

TóM TắT

Nghiên cứu thành phần động vật đáy trên sông Hậu được tiến hành vào mùa mưa với 2 đợt thu mẫu (06/2013 và 09/2013) tại 22 vị trí bao gồm 7 điểm trên sông Hậu và 15 điểm trên sông nhánh của sông Hậu. Kết quả cho thấy tổng cộng có 61 loài động vật đáy được phát hiện thuộc 6 lớp, trong đó lớp Gastropoda có thành phần loài phong phú nhất với 26 loài (43%), các lớp còn lại có số loài biến động từ 3-16 loài (5-28%). Thành phần loài động vật đáy ghi nhận được trên sông chính và sông nhánh không có sự khác biệt lớn qua 2 đợt khảo sát. Mật độ động vật đáy biến động từ 67 đến 3.450 cá thể/m2 trên sông Hậu và từ 67 đến 13.187 cá thẻ/m2 trên sông nhánh. Chỉ số đa dạng Shannon-Weaver (H?) và Margalef (d) biến động lần lượt từ 0,4-2,8 và từ 0,3-3,2. Có sự tương đồng rất cao về thành phần loài động vật đáy giữa sông chính và sông nhánh. Do đó, kết quả của nghiên cứu cho thấy các vị trí thu mẫu đều bị ô nhiễm từ mức ô nhiễm trung bình đến ô nhiễm nặng. Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu còn là nguồn dữ liệu cơ bản để xây dựng chương trình quan trắc sinh học trên sông Hậu.

Các bài báo khác
Tập 54, Số CĐ Thủy sản (2018) Trang: 115-128
Tải về
Số Thủy sản 2014 (2014) Trang: 284-291
Tải về
Số 43 (2016) Trang: 68-79
Tải về
(2014) Trang: 21
Tạp chí: Aquaculture and environment: A focus in the Mekong Delta, Viet Nam, April 3-5, 2014, Can Tho University, Can Tho city, Viet Nam
(2014) Trang: 266
Tạp chí: 4th International Fisheries Symposium, JW marriot Hotel, Surabaya, Indonesia, October 30-31th, 2014
(2014) Trang: 267
Tạp chí: 4th International Fisheries Symposium, IFS 2014, JW marriot Hotel, Surabaya, Indonesia, October 30-31th, 2014
 

CTUJoS indexed by Crossref

Vietnamese | English


BC thường niên 2018


Con số ấn tượng (VN | EN)


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...