Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số 15b (2010) Trang: 264-273
Tác giả: Võ Thành Danh
Tải về

ABSTRACT

Water in rivers at the Mekong Delta is now polluted seriously. Sources of polluters come from agricultural activities due to uses of fertilizers and pesticides, human activities, and untreated discharge water form industrial activites. The paper showed that majority of respondents were willing to pay for the program protecting river not be polluted. Applying the contingent valuation method, the mean willingness to pay estimated by Probit model was 29,345 VND/household/year and the total economic losses were estimated at 1,454 billion VND/year. Probit and OLS models? results showed that variables: option price, household income, respondent?s age, sex, educational status, resettlement, number of children, uncertainty on river water supply and demand, and concern on the pollution status statistically significantly affected to the willingness to pay to avoid the pollution happen. 

Keywords: Contingent valuation method, economic losses, river water pollution

Title: Economic valuation of river water pollution in the Mekong Delta

TóM LƯợC

Nguồn nước sông ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang bị ô nhiễm. Các nguồn gây ô nhiễm đến từ hoạt động sản xuất nông nghiệp do sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều, do các chất thải sinh hoạt, và từ các hoạt động sản xuất công nghiệp. Bài viết cho thấy rằng đa số đáp viên sẵn lòng trả tiền tham gia chương trình bảo vệ nước sông không bị ô nhiễm. Sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên, mức sẵn lòng chi trả là 29.345 đồng/hộ/tháng và tổn thất kinh tế có thể lên đến khoảng 1.454 tỷ đồng/năm. Kết quả của Mô hình Probit và Mô hình hồi quy OLS cho thấy rằng các biến: giá cược, thu nhập hộ gia đình, tuổi, giới tính, và trình độ học vấn của đáp viên, địa bàn cư trú của hộ gia đình, số trẻ em trong hộ, sự không chắc chắn về cung và cầu nước sông dùng trong sinh hoạt, và sự quan tâm của người dân đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước đều có ý nghĩa thống kê. 

Từ khóa: Phương pháp định giá ngẫu nhiên, tổn thất kinh tế, ô nhiễm nước sông

Các bài báo khác
Số 09 (2008) Trang: 132-141
Tác giả: Võ Thành Danh
Tải về
Số 10 (2008) Trang: 185-194
Tác giả: Võ Thành Danh
Tải về
Tập 54, Số 4 (2018) Trang: 200-211
Tải về
Số 27 (2013) Trang: 34-44
Tải về
Số 15b (2010) Trang: 38-45
Tác giả: Võ Thành Danh
Tải về
Số 17b (2011) Trang: 43-52
Tác giả: Võ Thành Danh
Tải về
Số 36 (2015) Trang: 64-71
Tác giả: Võ Thành Danh
Tải về
Số 28 (2013) Trang: 7-16
Tải về
Tập 55, Số 5 (2019) Trang: 99-108
Tải về
Số 09 (2008) Trang:
Tác giả: Võ Thành Danh
Tải về
Võ Thành Danh (2016) Trang: 59-100
Tạp chí: Phân tích chuỗi giá trị các sản phẩm nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long
Võ Thành Danh (2016) Trang: 1-15
Tác giả: Võ Thành Danh
Tạp chí: Phân tích chuỗi giá trị các sản phẩm nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long
David James & Herminia A. Franciso (2015) Trang: 345-368
Tác giả: Võ Thành Danh
Tạp chí: Cost-Benefit Studies of Natural Resource management in Southeast Asia
2 (2015) Trang: 1-12
Tạp chí: Renewables Wind, Water, and Solar
12 (2014) Trang: 1-39
Tác giả: Võ Thành Danh
Tạp chí: Working paper of International Institute for Environment and Development
1 (2013) Trang: 202
Tạp chí: Giải pháp khai thác tiềm năng Kinh tế-Xã hội các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long theo hướng liên kết vùng
1 (2012) Trang: 277
Tác giả: Võ Thành Danh
Tạp chí: Phát triển KT-XH
(2012) Trang:
Tạp chí:  Enviromental Change and Agriculture Sustainability in the Mekong Delta
 

CTUJoS indexed by Crossref

Vietnamese | English


BC thường niên 2019


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...