Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Chờ xuất bản
Bài báo - Tạp chí
Số 32 (2014) Trang: 113-122
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận: 21/10/2013

Ngày chấp nhận: 30/06/2014

 

Title:

Composition of the algae at different salinities in biofloc system

Từ khóa:

Thành phần tảo, độ mặn khác nhau, ao bón phân, biofloc

Keywords:

Algae composition, salinity, fertilizer pond, biofloc

ABSTRACT

Microalgae are considered as valuable feed for Artemia. The aim of this experiment was to assess the potential of the biofloc technology for brine shrimp through composition of algae prevailed in fertilized ponds. The experiment was carried out in earthen pond (150 m2) at four different salinities (35, 60, 80 and 100?) with 3 replicates per each treatment, the experimental period was 21 days. Algae composition were 44, 34, 21 and 19 genus at 35, 60, 80 and 100? treatments, respectively, Bacillariophyta was the most dominant genus at all treatments. At the 35 and 60? treatments, the dominant genus were usually Peridinium (dinophyta), Nitzschia (Bacillariophyta); Nanochloropsis, Tetraselmis (Chlorophyta). While at the higher salinities (80 and 100?), Nitzschia, Chlamydomonas, Nannochloropsis, Tetraselmis were dominant genus. The density of the algae was from 7,093 to 47,589 cells/L. There were not statistically significant in the density of algae among the treatments (p>0.05) during the experimental period, excepted at day 15 and 18 (p <0.05). Results of experiment showed that at the salinity of 80 and 100? were suitable to apply for Artemia pond culture as the presence of suitable algae .

TóM TắT

Vi tảo được xem là nguồn thức ăn có giá trị cho Artemia. Mục đích của thí nghiệm này nhằm đánh giá tiềm năng của việc ứng dụng công nghệ biofloc trên đối tượng Artemia thông qua khảo sát thành phần tảo hiện diện trong ao bón phân. Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức (35, 60, 80 và 100?) và 3 lần lặp lại, được bố trí trong các ao có diện tích 150 m2, mực nước 30 cm, thời gian thí nghiệm 21 ngày. Kết quả đã phát hiện 44, 34, 21 và 19 giống tảo tương ứng với các nghiệm thức (NT) 35, 60, 80 và 100?, trong đó ngành tảo khuê chiếm ưu thế về số lượng. Các giống tảo chiếm ưu thế ở độ mặn 35 và 60? thường là Peridinium (tảo Giáp), Nitzschia (tảo Khuê); Nanochloropsis, Tetraselmis (tảo Lục). Trong khi ở độ mặn cao hơn (80 và 100?) thì giống tảo Chlamydomonas, Nanochloropsis, Tetraselmis (tảo lục) chiếm ưu thế. Mật độ tảo ở các NT dao động tương ứng từ 7.093-477.589 tb/L. Mật độ tảo không có khác biệt thống kê (p>0,05) trong thời gian thí nghiệm (ngoại trừ ngày 15 và 18 p<0,05). Kết quả thí nghiệm cho thấy độ mặn 80 và 100? là phù hợp khi ứng dụng cho đối tượng Artemia với sự hiện diện của các loài tảo là thức ăn thích hợp.

Các bài báo khác
Số 16a (2010) Trang: 111-121
Tải về
Số 42 (2016) Trang: 118-126
Tải về
Số Thủy sản 2014 (2014) Trang: 150-158
Tải về
Số 16b (2010) Trang: 208-220
Tải về
Số 30 (2014) Trang: 53-63
Tải về
Số 34 (2014) Trang: 92-98
Tải về
(2015) Trang: 152-157
Tác giả: Nguyễn Văn Hòa
Tạp chí: Hội thảo giới thiệu tiến bộ KHKT
(2015) Trang:
Tạp chí: feed and feeding management for healthier aquaculture and profits
1 (2013) Trang: 1
Tạp chí: European Aquaculture Society, Special Publication No. XX, Oostende, Belgium, 2013
21 (2013) Trang: 1343
Tác giả: Nguyễn Văn Hòa
Tạp chí: Aquaculture International: Volume 21, Issue 6 (2013), Page 1343-1354
1 (2013) Trang: 1
Tạp chí: International Workshop on Brine Shrimp Artemia in Solar Saltworks
 

CTUJoS indexed by Crossref

Vietnamese | English


BC thường niên 2019


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...