Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
(2014) Trang: 110-120
Tạp chí: Hội thảo Mối liên hệ giữa rừng ngập mặn và nguồn lợi nghêu, Thành Phố HCM ngày 18/11/2014
Liên kết:

Nghêu trắng là đối tượng chủ lực thứ hai sau tôm sú trong chiến lược phát triển nuôi trồng thuỷ sản ven biển của tỉnh Trà Vinh nơi có nhiều điều kiện thuận lợi cho nuôi thủy sản mặn lợ nhưng tỉnh vẫn chưa khai thác được các lợi thế sẵn có của đối tượng này. Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 12/2010 đến tháng 06/2011 trên cơ sở khảo sát tất cả các nhóm tác nhân tham gia chuỗi nhằm hiểu rõ thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển chuỗi giá trị nghêu ở tỉnh Trà Vinh, trong đó nhấn mạnh việc phân phối lợi ích-chi phí giữa các tác nhân chuỗi.
Có 3 kênh phân phối sản lượng trong chuỗi giá trị nghêu ở Trà Vinh như sau:
(1) Kênh 1: Cơ sở nuôi nghêu è Thương lái è Nhà máy chế biến xuất khẩu è Thị trường quốc tế (chiếm 93,1% tổng sản lượng);
(2) Kênh 2: Cơ sở nuôi nghêu è Thương lái nghêu thương phẩm è Chợ đầu mối è Người bán lẻ è Người tiêu dùng nội địa (chiếm 2,7% tổng sản lượng);
(3) Kênh 3: Cơ sở nuôi nghêu è Thương lái nghêu thịt è Người bán lẻ è Người tiêu dùng nội địa (chiếm 4,2% tổng sản lượng).
Kênh 1 là kênh quan trọng nhất, tạo ra tổng giá trị gia tăng (GTGT) của toàn chuỗi là 22,2 ngàn đồng/kg và các nhà máy chế biến (NMCB) nhận được 35,7% GTGT, kế đến là cơ sở nuôi nghêu thương phẩm (34,3%) và thương lái nghêu thương phẩm (30,0%). Lợi nhuận hay giá trị gia tăng thuần (GTGTT) của toàn chuỗi của kênh 1 là 15,3 ngàn đồng/kg, trong đó các cơ sở nuôi thương phẩm có GTGTT cao nhất (49,6%), sau đó là thương lái nghêu thương phẩm (34,1%) và các NMCB (16,3%). Tuy nhiên, khi phân tích theo qui mô sản lượng sản xuất kinh doanh của từng tác nhân thì lợi nhuận tập trung hầu hết cho các NMCB ở ngoài tỉnh Trà Vinh (76,3%). Vì vậy, mức lợi nhuận/tác nhân theo kênh này không tạo được nhiều giá trị sản xuất cho Trà Vinh trong khi lợi nhuận của các cơ sở nuôi trong tỉnh chỉ chiếm 18,5%. Chiến lược phát triển ngành hàng nghêu và phân phối lợi ích-chi phí cũng như tạo thêm giá trị sản xuất và GTTT cho tỉnh Trà Vinh được đề cập chi tiết trong báo cáo này.

Các bài báo khác
Tập 54, Số CĐ Thủy sản (2018) Trang: 191-198
Tải về
(2015) Trang: 62
Tạp chí: Internaltional Sympopsium Aquatic Products processing Cleaner production chain for healthier food, In Cantho University 09-09 December 2015
(2015) Trang: 49
Tạp chí: Internaltional Sympopsium Aquatic Products processing Cleaner production chain for healthier food, In Cantho University 09-09 December 2015
157 (2013) Trang: 84
Tạp chí: Tạp chí Thương mại thủy sản (số 157/2013; ISSN 1859-1175) Trang 84-87
1 (2012) Trang: 460
Tạp chí: Khoa học trẻ ngành Thủy sản lần III
 

Crossref DOI of CTUJoS


BC thường niên 2018


Con số ấn tượng (VN | EN)


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...