Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Chờ xuất bản
Bài báo - Tạp chí
Số Môi trường 2015 (2015) Trang: 9-17
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận:08/08/2015

Ngày chấp nhận: 17/09/2015

 

Title:

Development of zooplankton in the snakeskin gourami (Trichogaster pectoralis) rearing pond

Từ khóa:

Zooplankton, chất thải biogas, cá sặc rằn

Keywords:

Zooplankton, waste of biogas digester system, snakeskin gourami

ABSTRACT

The experiments of rearing snakeskin gourami with industrial pellet, pig manure and biogas digester (BD) waste water were carried out simultaneously in 100 m2 ponds with the stock density of 10 ind./m2. In the 1st pond, the amount of industrial pellet (with nitrogen of concentration of 42%) was daily supplied at the rate of 5%, 35% and 30% of total fish weight during the 1st, 2nd and 3rd two-month period, respectively. The nitrogen of pig manure and BD waste water in the 2nd and 3rd pond was analyzed at the beginning of the experiment and supplied to fish with the same amount of that supplied in the 1st pond. It was found that 76 species of zooplankton including 4 groups in which Rotatoria was the most abundant. In the pond with BD waste water supply, the zooplankton biomass was the greatest with the density fluctuated from 163,520 – 1,504,800ind./m3. After 6 months rearing, the growth of fish in the pond fed by BD waste water was similar to the one fed by industrial pellet. All of fish in the experimental ponds were not contaminated by E. coli and Salmonella so it is safe for human consumption. The waste water from BD system can be used for rearing snakeskin gourami to increase the household’s income.

TÓM TẮT

Thí nghiệm nuôi cá sặc rằn bằng thức ăn công nghiệp, phân heo tươi và nước thải biogas được tiến hành đồng thời trong ao 100 m2 và mật độ cá nuôi là 10 con/m2. Trong ao nuôi cá số 1, lượng thức ăn công nghiệp được cung cấp hàng ngày là 5% trọng lượng cá, hàm lượng đạm trong thức ăn là 42% trong 2 tháng đầu, 35% trong 2 tháng kế tiếp và 30% trong hai tháng cuối. Lượng đạm trong phân heo tươi và nước thải cung cấp cho ao số 2 và 3 được xác định ban đầu và cung cấp hàng ngày cho ao nuôi với số lượng sao cho lượng đạm của nó tương ứng với lượng đạm trong thức ăn công nghiệp. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 76 loài động vật phiêu sinh thuộc 4 nhóm. Trong đó ngành trùng bánh xe (Rotatoria) có số loài phong phú nhất. Ao nuôi cá bằng nước thải biogas có số lượng động vật nổi cao nhất và biến động từ 163.520 – 1.504.800 ct/m3. Sau 6 tháng, cá được nuôi bằng nước thải biogas có trọng lượng tương tự với cá nuôi bằng thức ăn công nghiệp. Chất lượng thịt cá trong 3 ao thí nghiệm đều không nhiễm vi sinh vật và rất an toàn để sử dụng làm thực phẩm. Nên sử dụng nước thải từ hệ thống ủ biogas để nuôi cá sặc rằn góp phần tăng thu nhập cho nông hộ.

Các bài báo khác
Số 20a (2011) Trang: 18-27
Tải về
Số 28 (2013) Trang: 30-37
Tải về
Số 21b (2012) Trang: 38-46
Tải về
Số 29 (2013) Trang: 51-57
Tải về
Số 07 (2007) Trang: 85-94
Tải về
 

Crossref DOI of CTUJoS


BC thường niên 2018


Con số ấn tượng (VN | EN)


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...