Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số Thủy sản 2014 (2014) Trang: 15-21
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận: 10/6/2014

Ngày chấp nhận: 04/8/2014

 

Title:

Assessment of striped catfish fillet quality at different rearing areas

Từ khóa:

Cá tra, màu sắc phi lê, khu vực nuôi, acid amin

Keywords:

Striped catfish, fillet color, rearing area, amino acid

ABSTRACT

Assessment of striped catfish fillet quality at different rearing area was done by sampling harvest fish (0.8-1kg, 10 fish/pond) at nine ponds located in Can Tho province, Vietnam. Fish ponds were classified into three groups such as closed to Mekong river (group 1), closed to Mekong tributaries (group 2) and in inland area (internal channel water supply, group 3). Collected fish was killed, filleted and evaluated fillet color as well as calculated for fillet ratio. Fillet was then stored in ice and transfer to laboratory for chemical composition analysis as moisture, protein, lipid, ash and amino acid content. Results showed that significant lowest organic matter content of sediment was found in group I. The highest percentage of ?white? fillet (93.3%) was found in group II and it was significant different to group III (53.3%). The fillet ratio was not significant difference between groups, varied 2.14 to 2.17. Results from linear regression showed that there was no correlation between organic matter content of sediment and fillet color (R2=0.074; p=0.479). Chemical compositions such as protein, lipid, moisture and ash between groups were not significant difference.

TóM TắT

Đề tài đánh giá chất lượng cá tra thương phẩm ở các khu vực nuôi khác nhau được thực hiện bằng cách thu mẫu cá tra (0,8-1 kg, 10 con) tại 9 ao nuôi ở Cần Thơ chia làm ba khu vực nuôi: 3 ao nuôi có vị trí tại cồn giữa sông thuận tiện nguồn nước cấp (khu vực I), 3 ao nuôi có vị trí tại sông kênh nhỏ (khu vực II) và 3 ao nuôi có vị trí trong kênh nội đồng, xa nguồn nước sông lớn (khu vực III). Cá sau khi được bắt lên từ ao nuôi sẽ bị giết, cắt tiết, phi lê và đánh giá màu sắc miếng phi lê, tỷ lệ phi lê. Tất cả các miếng phi lê của cá sau đó được chuyển lạnh về phòng thí nghiệm xay nhuyễn, sấy lạnh và trữ lạnh nhằm phân tích thành phần sinh hóa cá như chất đạm, béo, tro, độ ẩm và acid amin. Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng chất hữu cơ tại khu vực I là thấp nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với khu vực nuôi II và khu vực nuôi III. Khu vực nuôi II có tỷ lệ màu trắng của thịt cá phi lê là cao nhất (93,3%) và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với khu vực nuôi III (53,3%). Tỷ lệ phi lê ở các khu vực nuôi khác nhau không khác biệt có ý nghĩa thống kê và dao động từ 2,14 đến 2,17. Kết quả phân tích hồi quy tương quan cho thấy không có sự tương quan giữa tính chất đất và màu sắc thịt cá nuôi (R2=0,074; p=0,479). Thành phần hóa học như đạm, béo, khoáng và độ ẩm của phi lê cá tra ở các khu vực nuôi khác nhau thì không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Các bài báo khác
Số 04 (2016) Trang: 105-113
Tải về
Tập 54, Số 3 (2018) Trang: 147-155
Tải về
Tập 54, Số CĐ Thủy sản (2018) Trang: 212-217
Tải về
Số 51 (2017) Trang: 80-87
Tải về
Volume 9, Issue 8 (2019) Trang: 812-815
Tạp chí: International Journal of Scientific and Research Publications
(2015) Trang:
Tạp chí: International Symposium-Aquatic product processing, Can Tho University, 7-9 Dec 2015
134 (2012) Trang: 1399
Tác giả: Trần Minh Phú
Tạp chí: Food Che
 

CTUJoS indexed by Crossref

Vietnamese | English


BC thường niên 2019


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...