Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số 37 (2015) Trang: 89-96
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận: 19/12/2014

Ngày chấp nhận: 27/04/2015

Title:

Assessment of technical barriers and cost benefit of tiger shrimp and mud crab integrated culture system in Nam Can District, Ca Mau Province

Từ khóa:

Tôm sú, Penaneus monodon, cua biển, Scylla paramamosain, hiệu quả tài chính

Keywords:

Integrated, black tiger shrimp, Penaeus monodon, mud crab, Scylla paramamosain, cost benefit, technical barrier

ABSTRACT

This study was implemented in order to evaluate the cost benefit and technical barriers of black tiger shrimp and mud crab integrated culture system by direct interviewing 40 farmers in Nam Can district, Ca Mau province from 08/2014 to 12/2014. The results showed that pond area was 1.5 ha in average, water surrounding ditch area accounted for 28.6%, water depth was 1.1 m in ditch and 0.5 meter in the central platform. Number of seed stocking times for shrimp and crab was 5.8 and 4.6 times per year, respectively, with the density coresponding to 19.0 shrimp/m2 and 0.5 crab/m2. The average yield capacity of black tiger shrimp, crab, natural shrimp and fish was 365; 76.9; 109 and
40.3 kg/ha/year, respectively. The average total cost was 26.6 millions VND/ha/year; the average total income was 118.8 millions VND/ha/year; the net profit was very high, 91.3 millions VND/ha/year and the cost benefit ratio was 3.7. Three factors enhanced the efficiency of the integrated farming were identified (i) application of probiotics; (ii) not exceed 8 times of shrimp seed stocking per year and (iii) not more than 3 times of crab seed stocking per year. Results of this study provided basic knowledge for improvement of tiger shrimp and mud crab integrated farming system in the Mekong Delta in generally and Ca Mau province in particularly.

TÓM TẮT

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 8-12/2014, thông qua phỏng vấn trực tiếp 40 hộ nuôi tôm sú kết hợp với cua biển ở huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả tài chính của mô hình nuôi và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của mô hình. Kết quả cho thấy, diện tích trung bình của các hộ nuôi 1,5 ha/ao, mương bao chiếm 28,6%, độ sâu mực nước ở mương 1,1 m và trảng là 0,5 m. Số lần thả tôm giống và cua trong năm lần lượt là 5,8 và 4,6 lần; tương ứng với mật độ tôm là 19,0 con/m2 và cua là 0,5 con/m2. Năng suất trung bình của tôm sú, cua, tôm tự nhiên và cá lần lượt là: 365; 76,9; 109 và 40,3 kg/ha/năm. Trung bình tổng chi phí của mô hình nuôi 26,6 triệu đồng/ha/năm; tổng thu nhập bình quân 118,8 triệu đồng/ha/năm; lợi nhuận đạt 91,3 triệu đồng/ha/năm và tỷ suất lợi nhuận tương ứng là 3,7. Có 3 yếu tố tác động làm tăng hiệu quả của mô hình nuôi gồm: (i) sử dụng chế phẩm sinh học; (ii) thả tôm không vượt quá 8 lần/năm và (iii) thả cua không nhiều hơn 3 lần/năm. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở cho việc khuyến cáo các hộ nuôi tôm sú kết hợp với cua biển ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Cà Mau nói riêng.

Các bài báo khác
Tập 54, Số 3 (2018) Trang: 132-137
Tải về
Số 15a (2010) Trang: 189-197
Tải về
Số 14 (2010) Trang: 205-212
Tải về
Số 48 (2017) Trang: 27-35
Tải về
Số 38 (2015) Trang: 44-52
Tải về
Số 47 (2016) Trang: 45-53
Tải về
Số 49 (2017) Trang: 72-83
Tải về
Số 46 (2016) Trang: 80-86
Tải về
Số 06 (2017) Trang: 83-92
Tải về
Số 34 (2014) Trang: 84-91
Tải về
Tập 55, Số 3 (2019) Trang: 88-95
Tải về
Tập 54, Số 9 (2018) Trang: 88-96
Tải về
Tập 54, Số CĐ Thủy sản (2018) Trang: 9-17
Tải về
Tập 54, Số 7 (2018) Trang: 94-101
Tải về
Số 24a (2012) Trang: 96-105
Tải về
Tập 55, Số 4 (2019) Trang: 97-104
Tải về
Số 50 (2017) Trang: 97-108
Tải về
 

Crossref DOI of CTUJoS


BC thường niên 2018


Con số ấn tượng (VN | EN)


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...