Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số 15a (2010) Trang: 207-213
Tải về

ABSTRACT

This study was designed to determine the maximum replacing levels of fish meal protein (FM) by soybean meal protein (SBM), defatted with phytase enzyme supplementation for Channa micropeltes. FM in the basal diet was replaced by SBM in the diets at replacing levels of 20, 30, 40, and 50% with 0.02% phytase supplementation. Channa micropeltes fingerlings (4.3±0.03 g/fish) were randomly distributed into 15 tanks (100 liters/tank) with 25 individuals per tanks. After 8 weeks of feeding, there were no significant differences in survival rate (SR) among the treatments. Compare to control treatment (FM), replacement of 20, 30 and 40% of FM by SBM did not significantly affected on growth performance, feed conversion ratio (FCR) and protein efficiency ratio (PER) while the replacing level of 50% significantly reduced these parameters, except FCR. From economic view, replacement of FM by SBM up to 40% in Channa micropeltes diets reduced  feed costs/kg weight gain by 4.83%.

Keywords: Channa micropeltes, snakehead, phytase

Title: Replacing fish meal by soybean meal in giant snakehead (Channa micropeltes) diets

TóM TắT

Nghiên cứu được tiến hành để xác định khả năng thay thế protein bột cá bởi protein bột đậu nành, có bổ sung enzym phytase làm thức ăn cho cá lóc bông. Nghiệm thức thức ăn đối chứng với nguồn cung cấp protein là bột cá, 4 nghiệm thức còn lại có mức protein bột cá được thay thế bởi protein bột đậu nành lần lượt là 20%, 30%, 40%, 50% và có bổ sung 0,02% phytase. Cá lóc bông giống chọn làm thí nghiệm có khối lượng từ 4-5g/con, được bố trí ngẫu nhiên trong 15 bể (100 lít/1bể), với mật độ 25 con/bể. Sau 8 tuần thí nghiệm, thì cá nuôi ở các nghiệm thức không có sự khác biệt về tỷ lệ sống. So với nghiệm thức đối chứng và các nghiệm thức có bột đậu nành thay thế ở mức 20%, 30%, 40% thì không có sự khác biệt về tăng trưởng của cá, hệ số thức ăn, hiệu quả sử dụng protein. Còn nghiệm thức 50% bột đậu nành thay thế bột cá thì có khác biệt khi so sánh về các chỉ tiêu trên, trừ hệ số thức ăn. Với  mức thay thế 40% bột đậu nành cho bột cá làm thức ăn cho cá lóc bông thì giảm chi phí thức ăn/1kg cá tăng trưởng là 4,83%.

Từ khóa: Channa micropeltes, cá lóc bông , phytase

Các bài báo khác
Số 38 (2015) Trang: 101-108
Tải về
Số 26 (2013) Trang: 196-204
Tải về
Số 22a (2012) Trang: 261-268
Tải về
Số Thủy sản 2014 (2014) Trang: 310-318
Tải về
Số 11a (2009) Trang: 390-397
Tải về
Số 11a (2009) Trang: 398-405
Tải về
Số 17a (2011) Trang: 50-59
Tải về
Số 03 (2005) Trang: 58-65
Tải về
Tập 55, Số 2 (2019) Trang: 96-103
Tải về
Số 03 (2005) Trang:
Tải về
8 (2018) Trang: 200-205
Tạp chí: International Journal of Scientific and Research Publications
(2015) Trang:
Tạp chí: The 7th regional aquafeed forum, feed and feeding management for healthier aquaculture and profits, Can Tho University, 22-23 October 2015
1 (2012) Trang: 1
Tạp chí: IFS 2012
1 (2012) Trang: 1
Tạp chí: IFS 2012
 

Crossref DOI of CTUJoS


BC thường niên 2018


Con số ấn tượng (VN | EN)


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...