Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số 22a (2012) Trang: 261-268
Tải về

ABSTRACT

This study was conducted to determine the period of time and methods for effectively weaning artificial food in rearing giant snakehead (Channa micropeltes). Nine treatments with 3 replications were set up with different time using artificial food (20, 30, 40 days post- hatch) and different duration of the changeover period from live to artificial food (10%/day, 10%/2 days, 10%/3 days). Gaint snakehead larvae were stocked into 27 composite tanks (100L per tank), with density of 200 individuals per tank. The experiment lasted for 10 weeks. The results showed that gaint snakehead larvae weaned 20 days post- hatch (DPH) had significantly lower survival than fish weaned 30 or 40 DPH (p<0,05). There were no significant differences in any survival parameter between larvae weaned by 30 and 40 DPH. However, the weight gain (WG) and daily growth gain (DWG) of fish weaned by 40 DPH showed a significantly higher than that of 30 DPH (p<0,05). In general, gaint snakehead larvae can be weaned artificial food at 40 days post-hatch with the replacing method which increased 10% amount of artificial food per 3 days reached the best survival rate (80,8%) and daily growth gain (DWG=0,17g/day).

Keywords: Channa micropeltes, giant snakehead, weaning, artificial feed

Title: Replacing trashfish by artificial  feed in rearing  giant snakehead (Channa micropeltes.) larvae

TóM TắT

Thí nghiệm này được tiến hành nhằm xác định thời điểm và phương thức tập ăn thức ăn chế biến hiệu quả trong ương nuôi cá lóc bông (Channa micropeltes). Chín nghiệm thức với các thời điểm sử dụng thức ăn chế biến (TACB) khác nhau (20, 30, 40 ngày sau nở ) và phương thức thay thế thức ăn tươi sống bằng TACB khác nhau (10%/ngày, 10%/2 ngày, 10%/3 ngày) được thực hiện. Cá được bố trí trên 27 bể nhựa (V=100L) với mật độ 200 con/bể. Thí nghiệm được tiến hành trong thời gian 10 tuần. Kết quả thí nghiệm cho thấy rằng tỉ lệ sống của cá lóc bông giống tập ăn ở giai đoạn 20 ngày sau nở thấp hơn có ý nghĩa so với 30 và 40 ngày sau nở (p<0,05). ở giai đoạn tập ăn lúc 30 và 40 ngày tuổi tỉ lệ sống không khác biệt nhiều. Tuy nhiên, tăng trọng (WG) và tốc độ tăng trưởng ngày (DWG) của cá tập ăn lúc 40 ngày tuổi cao hơn có ý nghĩa so với 30 ngày tuổi (p<0,05). Tóm lại, có thể tập ăn TACB cho cá lóc bông giai đoạn 40 ngày tuổi cho tỉ lệ sống (80,8%) và tăng trưởng ngày (1,07g/ngày) tốt nhất với phương thức thay thế 10% TACB/3 ngày.

Từ khóa: Channa micropeltes, cá lóc bông, tập ăn, thức ăn chế biến

Các bài báo khác
Số 38 (2015) Trang: 101-108
Tải về
Số 26 (2013) Trang: 196-204
Tải về
Số 15a (2010) Trang: 207-213
Tải về
Số Thủy sản 2014 (2014) Trang: 310-318
Tải về
Số 11a (2009) Trang: 390-397
Tải về
Số 11a (2009) Trang: 398-405
Tải về
Số 17a (2011) Trang: 50-59
Tải về
Số 03 (2005) Trang: 58-65
Tải về
Số 03 (2005) Trang:
Tải về
8 (2018) Trang: 200-205
Tạp chí: International Journal of Scientific and Research Publications
(2015) Trang:
Tạp chí: The 7th regional aquafeed forum, feed and feeding management for healthier aquaculture and profits, Can Tho University, 22-23 October 2015
1 (2012) Trang: 1
Tạp chí: IFS 2012
1 (2012) Trang: 1
Tạp chí: IFS 2012
 

Crossref DOI of CTUJoS


BC thường niên 2018


Con số ấn tượng (VN | EN)


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...