Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Chờ xuất bản
Bài báo - Tạp chí
Số 18a (2011) Trang: 56-64
Tải về

ABSTRACT

Study on migration of the goby (Pseudapocryptes elongatus) was carried out in the coastal area of Bac Lieu province from January to December, 2009. A number of the migrated fish was determined by using the data of catch (in number) and effort (in hour) of bag net fishery by catch per unit effort, CPUE (number of migrated fish/bag net/hour). Results indicated that the goby abundantly follows the tidal currents for migration to sea in January and February meanwhile it was rarely during October to December. The goby migrated to sea two times per month during the full moon (15th day of lunar calendar) and new moon (30th day of lunar calendar) period, in which they mainly migrated during the new moon period. The results also indicated that the goby started to migrate at the size of 116.1 mm in standard length (SL) and the most migrated size was 147.8 mm (SL).  Almost of the migrated goby was examined as unmatured fish. Results also indicated that the water temperature in the research area fluctuated with narrow range; however, the results showed that CPUE in the period of high water temperature was lower than that of the lower temperature. The results also indicated that the goby migrated abundantly when the salinity, current velocity and tidal range were higher.                           

Keywords: Goby, Pseudapocryptes elongatus, Seasonal migration, and Migration size

Title: Migration of the goby (Pseudapocryptes elongatus) distributed in coastal areas of the Mekong Delta 

TóM TắT

Nghiên cứu tập tính di cư của cá kèo (Pseudapocryptes elongatus) được tiến hành ở vùng ven biển thuộc tỉnh Bạc Liêu trong thời gian một năm tròn, từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2009. Số lượng di cư của cá kèo được xác định dựa vào sản lượng (số cá thể) và thời gian khai thác (giờ) của nghề lưới đáy, thông qua sản lượng trên một đơn vị khai thác, CPUE (số cá thể/miệng lưới đáy/giờ). Kết quả cho thấy cá kèo theo thủy triều di cư ra biển nhiều nhất vào tháng giêng và tháng hai; ngược lại, vào các từ tháng 10 đến tháng 12 có số lượng di cư ít nhất. Cá kèo di cư ra biển mỗi tháng 2 lần tương ứng với 2 thời kỳ triều lên trong tháng là con nước rằm (15 âl) và con nước rong (30 âl), trong đó cá di cư với số lượng lớn và thường xuyên hơn trong thời kỳ con nước rong (30 âl). Về kích cở, chúng bắt đầu di cư ở chiều dài (SL) 116,1 mm và chúng di cư nhiều nhất khi đạt chiều dài SL=147,8 mm. Hầu hết cá di cư đều chưa đến giai đoạn thành thục sinh dục. Mặc dù nhiệt độ nước biến động không lớn giữa các tháng. Tuy nhiên, kết quả cho thấy cá di cư nhiều nhất hơn khi nhiệt độ thấp; ngược lại, cá di cư ít khi nhiệt độ cao hơn. Kết quả cũng cho thấy cá kèo di cư nhiều hơn vào thời điểm khi mà các yếu tố sinh thái như độ mặn, lưu tốc dòng chảy và biên độ thủy triều cao hơn.

Từ khóa: Cá Kèo, Pseudapocryptes elongatus, Mùa vụ di cư, Kích cỡ di cư

Các bài báo khác
Tập 55, Số 4 (2019) Trang: 140-147
Tải về
1 (2012) Trang: 26th 15:50-16:25
Tạp chí: International Workshop on Freshwater Biodiversity Coversation in Asia
1 (2013) Trang: 1
Tạp chí: Hội nghị Khoa học công nghệ sinh học Toàn quốc 2013-NXB Khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ
1 (2013) Trang: 1
Tạp chí: Fishes of the Mekong Delta, Viet Nam
1 (2012) Trang: 1
Tạp chí: Freshwater Biodiversity Conservation in Asia
 

Crossref DOI of CTUJoS


BC thường niên 2018


Con số ấn tượng (VN | EN)


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...