Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số 37 (2015) Trang: 72-81
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận: 06/09/2014

Ngày chấp nhận: 27/04/2015

Title:

Effects of selection intensity and broodtsock age on growth of square head climbing perch (Anabas testudineus) at grow-out stage

Từ khóa:

Hệ số di truyền, cá rô đồng, Anabas testudineus, chọn lọc hàng loạt, tuổi cá bố mẹ, nuôi thương phẩm

Keywords:

Heritability, climbing perch, Anabas testudienus, mass slection, broodstock age, fish grow-out

ABSTRACT

This study estimated realized heritability of 6-month weight of square-head climbing perch (Anabas estudineus) selected based on two cut-off values (5% and 25% of the normal distribution of the G1 population’s weight) and investigated effects of broodstock age on offspring’s growth. Four fish treatments included offspring from two selected (G2-CL1 and G2-CL2, respectively) and non-selected (G2-NN) 10- month old G1 parents, and offspring (G1-0) from the first generation with 26 months old. Two-month fingerlings (4.6 - 6.4g) were stocked in hapa nets at the density of 100 individuals/2m2with 4 replications for each treatment. Fish were fed commercial feed with decreasing levels of protein (40% to 30%) by months of culture. After 4 months, survival rates were similar among treatments (P>0.05), ranging from 82.8 to 94.8%. Feed conversion ratios (FCR) in selected groups (1.53 - 1.58) were lower than non-selected fish (1.82±0.49). Growth of fish in G2-CL1 was highest, where the final weight (126.4±25.2g) increased 43.6% compared to G2-NN. Realized heritability of body weight was 0.31±0.16 for 5% selected group and nearly zero for 25% selected group. Broodstock ages (10 and 26 months) did not significantly affect growth and FCR of climbing perch.

TÓM TẮT

Nghiên cứu này nhằm xác định hệ số di truyền thực về tăng trưởng với 2 mức độ chọn lọc hàng loạt (cá có khối lượng lớn nhất ở mức 5% và 25% của đường phân phối chuẩn) và tìm hiểu ảnh hưởng của tuổi cá bố mẹ lên tăng trưởng của dòng cá rô đầu vuông (ĐV) giai đoạn nuôi thương phẩm. Bốn nghiệm thức cá rô ĐV là đàn con của cá bố mẹ G1 (10 tháng tuổi) chọn lọc ở mức 5% (G2-CL1) và 25% (G2-CL2), cá bố mẹ ngẫu nhiên (G2-NN) và cá bố mẹ ban đầu 26 tháng tuổi (G1-0). Cá giống 2 tháng tuổi (4,6 - 6,4g) được nuôi trong giai với mật độ100 con/2m2, mỗi nghiệm thức được lặp lại 4 lần. Cá được cho ăn thức ăn viên có hàm lượng đạm giảm từ 40% xuống 30% theo thời gian nuôi. Kết quả sau 4 tháng, tỷ lệ sống của cá tương đương giữa các nghiệm thức (p>0,05), đạt từ 82,8 – 94,8%. Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) của nhóm cá chọn lọc (1,53 - 1,58) thấp hơn cá ngẫu nhiên (1,82±0,49). Tăng trưởng của cá G2-CL1 nhanh nhất, khối lượng cuối (126,4±25,2) tăng 43,6% so với cá không chọn lọc. Hệ số di truyền về khối lượng ở mức chọn lọc 5% là 0,31±0,16 và ở mức chọn lọc 25% là ~ 0. Tuổi cá bố mẹ (10 và 26 tháng) không ảnh hưởng đến tăng trưởng và FCR của cá rô đầu vuông.

Các bài báo khác
Số 38 (2015) Trang: 19-26
Tác giả: Dương Thúy Yên
Tải về
Số 40 (2015) Trang: 23-30
Tải về
Số 30 (2014) Trang: 29-36
Tác giả: Dương Thúy Yên
Tải về
Số 51 (2017) Trang: 64-71
Tải về
Vol. 11, No. 1 (2019) Trang: 70-77
Tải về
Số 34 (2014) Trang: 77-83
Tải về
Vol. 11, No. 2 (2019) Trang: 81-88
Tải về
Tập 54, Số 7 (2018) Trang: 86-93
Tải về
Số 29 (2013) Trang: 86-95
Tải về
Số 50 (2017) Trang: 91-96
Tải về
Số Thủy sản 2014 (2014) Trang: 92-100
Tải về
(2014) Trang: 1
Tạp chí: The international conference on aquaculture and environment: A focus in the Mekong Delta, Vietnam
 

CTUJoS indexed by Crossref

Vietnamese | English


BC thường niên 2019


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...