Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Chờ xuất bản
Bài báo - Tạp chí
Số 16a (2010) Trang: 81-89
Tải về

ABSTRACT

This study aims to evaluate the effects of different feeeding types on the growth and survivals of sea bass (Lates calcarifer) in order to contribbute to development of aquaculture in the coastal area of theMekongDelta. Fish fingerlings with innitial body length of 3.14cm and body wieght of 0.91g were stocked in rearing tanks of 200 L of brackish water (5ppt) at 30 fish/ tank. Five treatments with different feed types (trash fish, golden snain, pellets and their combinations) were used. Water temperature and pH were tested weekly. TAN and Nitrite as well as growth and survivals of fish were tested biweekly. Results showed that the fish have the best growth and survival rate in the treatment fed with trashfish where obtained average body weight of 6.99g, body length of 7.69cm and survival rates of 40% after 6 weeks. Fish fed with golden snails grew slower than did the trashfish but also potential for using. Pellet feed were not good for practical use at this stage. 

Keywords: Sea bass, Lates calcarifer, feed

Title: Effects of the different diets on the growth and survival rates of seabbass (Lates calcarifer Block, 1790) 

TóM TắT

Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau lên tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá chẽm (Lates calcarifer) để góp phần phát triển nghề nuôi cá nước lợ vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) . Cá chẽm thí nghiệm có chiều dài ban đầu 3,14 cm/con và khối lượng 0,91g/con được bố trí trong bể nhựa 200 lít với hệ thống lọc tuần hoàn ở mật độ 30 con/bể và độ mặn 5?. Thí nghiệm được bố trí với 5 nghiệm thức thức ăn khác nhau. Định kỳ 1 tuần/lần thu mẫu nhiệt độ, pH; 2 tuần/lần thu mẫu TAN, NO2-, cân đo khối lượng, chiều dài của cá và xác định tỷ lệ sống của cá. Kết quả nghiên cứu cho thấy cá chẽm tăng trưởng nhanh và đạt tỷ lệ sống cao nhất ở nghiệm thức cho ăn bằng cá tạp, cá đạt khối lượng 6,99 g/con, chiều dài 7,69 cm/con và tỷ lệ sống 40% sau 6 tuần nuôi. Cá chẽm ăn ốc tăng trưởng chậm hơn so với cá tạp, nhưng cũng có khả năng để làm thức ăn cho cá chẽm. Thức ăn công nghiệp sử dụng không hiệu quả khi chuyển thức ăn trong giai đoạn này.

Từ khóa: Cá chẽm, Lates calcarifer, thức ăn

Các bài báo khác
Vol. 54, No. 8 (2018) Trang: 105-113
Tải về
Số 39 (2015) Trang: 108-117
Tải về
Số 04 (2005) Trang: 109-118
Tải về
Số 25 (2013) Trang: 125-131
Tải về
Số 26 (2013) Trang: 143-148
Tải về
Số Thủy sản 2014 (2014) Trang: 145-157
Tải về
Số 14 (2010) Trang: 177-185
Tải về
Số 14 (2010) Trang: 186-194
Tải về
Số 38 (2015) Trang: 61-65
Tải về
Tập 54, Số CĐ Thủy sản (2018) Trang: 72-77
Tác giả: Lý Văn Khánh
Tải về
Số 37 (2015) Trang: 97-104
Tải về
9 (2017) Trang: 100-107
Tác giả: Lý Văn Khánh
Tạp chí: Tạp chí nghề cá Sông Cửu Long, ISSN 1859-1159
3 (2017) Trang: 105-108
Tác giả: Lý Văn Khánh
Tạp chí: Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam, ISSN: 1859-1558
(2016) Trang: 316-324
Tạp chí: Ký yếu hội nghị Khoa học trẻ thủy sản toàn quốc lần thứ VII, Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II, 9/2016. TP HCM
(2016) Trang: 262-273
Tạp chí: Ký yếu hội nghị Khoa học trẻ thủy sản toàn quốc lần thứ VII, Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II, 9/2016. TP HCM
Nguyen Thanh Phuong (2015) Trang: 48
Tạp chí: Feed and feeding management for healthier aquaculture and profit
1 (2013) Trang: 1
Tác giả: Lý Văn Khánh
Tạp chí: Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm sản xuất giống cá nâu
 

Crossref DOI of CTUJoS


BC thường niên 2018


Con số ấn tượng (VN | EN)


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...