Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Chờ xuất bản
Bài báo - Tạp chí
Số 15a (2010) Trang: 241-252
Tải về

Abstract

Three economic freshwater fish species in Mekong Delta: Snakehead (Channa striata), Bronze featherback (Notopterus notopterus), and Marble goby (Oxyeleotris marmorata) - with the initial body weight and length are 0,35± 0,08g and 3,4± 0,3cm;  0,45± 0,18g and 4,16± 0,41cm; 0,2± 0,09g and 2,2± 0,17cm, respectively - were cultured with different Artemia diets corresponding for five treatments (3 replicates): 100 % live Artemia biomass (1); 100% frozen Artemia biomass (2); 50% live Artemia biomass + 50% minced trash fish meat (3); 50% frozen Artemia biomass + 50% minced trash fish meat (4); and 100% trash fish meat as control treatment.

After the cultured period of 40 days, the results indicated that live and frozen Artemia biomass are the favorite diets of 3 fish species. The survival rate and growth rate were significantly higher (p<0.05) in the treatments which Artemia present (Treatment I-4) in compare with the control. On the contrary, fishes fed with trash fish (control) showed the lowest survival rate and growth rate.

Keywords: Artemia biomass, snakehead, featherback and marble goby fish, survival rate, growth rate

Title: Use of different Artemia biomass forms in nursing juveniles of some freshwater fish species

Tóm tắt

Ba loài cá nước ngọt tiêu biểu của vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) gồm cá lóc đen (Channa striata), cá thát lát còm (Notopterus chitala) và cá bống tượng (Oxyeleotris marmorata) có trọng lượng và chiều dài ban đầu là 0,35± 0,08g và 3,4± 0,3cm;  0,45± 0,18g và 4,16± 0,41cm; 0,2± 0,09g; 2,2± 0,17cm theo thứ tự tương ứng được ương từ giai đoạn hương lên giống trong các xô nhựa 60-100l với với 5 nghiệm thức thức ăn khác nhau là: 100% Artemia sinh khối tươi sống (I); 100% Artemia sinh khối đông lạnh (II);  50% Artemia sinh khối tươi sống + 50 % thịt cá tạp (III); 50% Artemia đông lạnh + 50% thịt cá tạp (IV); 100% thịt cá tạp được sử dụng như nghiệm thức đối chứng. Mật độ ương là 1con/lít với thời gian ương kéo dài 40 ngày.

Kết quả sau 40 ngày ương cho thấy, Artemia sinh khối tươi sống và Artemia đông lạnh là loại thức ăn rất được ưa thích của cả ba loài cá. Tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá mặc dù khác nhau tùy theo loài nhưng đều theo một quy luật là ở tất cả các nghiệm thức có sự hiện diện của Artemia đều cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng (p<0,05). Tỷ lệ sống và tăng trưởng thấp nhất thu được với nghiệm thức đối chứng (sử dụng cá tạp làm thức ăn) ở tất cả ba loài cá.

Từ khóa: Artemia sinh khối, cá lóc, cá thát lát, cá bống tượng, tỷ lệ sống, tăng trưởng

Các bài báo khác
Tập 55, Số 3 (2019) Trang: 103-110
Tải về
Tập 54, Số 1 (2018) Trang: 110-116
Tải về
Số 16b (2010) Trang: 127-137
Số Thủy sản 2014 (2014) Trang: 252-258
Tải về
Số 53 (2017) Trang: 41-48
Tải về
Số 17a (2011) Trang: 9-19
Tải về
8(2) (2018) Trang: 17-21
Tạp chí: International Journal of Scientific and Research Publications
1 (2013) Trang: 1
Tạp chí: International Workshop on Brine Shrimp Artemia in Solar Saltworks: Functional Role and Sustainable Resource
1 (2012) Trang: 1
Tạp chí: IFS 2012
 

Crossref DOI of CTUJoS


BC thường niên 2018


Con số ấn tượng (VN | EN)


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...