Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số 14 (2010) Trang: 119-127
Tải về

ABSTRACT

This study was conducted in Soc Trang province from April 2008 to September 2009 in order to evaluate the technical and economic aspects of the semi-intensive (SISCS) and intensive shrimp culture systems (ISCS). Fifteen households of each farming system were selected for collecting data during culture period. In addition, three ponds of each system were also chosen for sampling and determining the input and output of nitrogen(N) and phosphorous (P). The results of the study  showed that average shrimp yield of the ISCS (7,067 kg/ha/crop) was significantly higher than that of the SISCS (2,927 kg/ha/crop) (p<0.05). Shrimp survival rate (80.1%) and FCR (1.47) of the ISCS were not significantly different from those of the SISCS (64.8% and 1.45, respectively) (p>0.05). Net income of the ISCS (231 million VND/ha/crop) was higher than that of the SISCS (71.6 million VND/ha/crop) (p<0.05). Large amount of N and P releasing into the environment were accumulated in sediment then in water. The results also showed that an approximate of 88 kg of N and 30 kg of P in ISCS  and 68 kg of N and 25 kg of P in the SISCS were released into the enviroment from each ton of shrimp produced.

Keywords: Penaeus monodon,  shrimp culture, economic efficiency,MekongDelta

Title: An analysis of technical and economic aspects of black tiger shrimp intensive culture in Soc Trang province

TóM TắT

Nghiên cứu được hiện từ tháng 4 năm 2008 đến tháng 9 năm 2009 tại tỉnh Sóc Trăng nhằm phân tích và đánh giá các chỉ tiêu về kinh tế và kỹ thuật của mô hình nuôi tôm sú thâm canh (TC) và bán thâm canh (BTC). Mỗi mô hình chọn 15 hộ để thu thập số liệu suốt vụ nuôi. Ngoài ra, mỗi mô hình chọn 3 ao để thu mẫu và xác định sự phân bố đạm lân trong mô hình nuôi. Kết quả cho thấy năng suất trung bình của mô hình nuôi TC (7.067 kg/ha/vụ) cao hơn mô hình nuôi BTC (2.927 kg/ha/vụ) (p<0,05). Tuy nhiên tỷ lệ sống của mô hình TC (80,1%), BTC (64,8%) và FCR ở mô hình TC (1,47), BTC (1,45) khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Lợi nhuận của mô hình nuôi TC (231 triệu đồng/ha/vụ) cao hơn ở mô hình nuôi BTC (71,6 triệu đồng/ha/vụ) (p<0,05). Phần lớn đạm và lân thải ra môi trường thì tích lũy trong bùn đáy ao và kế đến là trong nước. Kết quả cũng cho thấy khi sản xuất ra 1 tấn tôm sú thì thải ra môi trường khoảng 88 kg N và 30 kg P ở mô hình nuôi TC và 68 kg N và 25 kg P ở mô hình nuôi BTC.

Từ khoá: Penaeus monodon, nuôi tôm sú, hiệu quả kinh tế, Đồng bằng sông           Cửu Long

Các bài báo khác
Tập 54, Số 7 (2018) Trang: 102-109
Tải về
Số 29 (2013) Trang: 104-108
Tải về
Số 37 (2015) Trang: 105-111
Tải về
Số 49 (2017) Trang: 109-115
Tải về
Số 45 (2016) Trang: 112-118
Tải về
Số 39 (2015) Trang: 128-136
Tải về
Tập 55, Số 4 (2019) Trang: 132-139
Tải về
Tập 54, Số CĐ Thủy sản (2018) Trang: 222-229
Tải về
Số 14 (2010) Trang: 222-232
Tải về
Số 40 (2015) Trang: 53-59
Tải về
Tập 55, Số 2 (2019) Trang: 61-68
Tải về
Số 47 (2016) Trang: 71-78
Tải về
Số 52 (2017) Trang: 86-92
Tải về
Số 51 (2017) Trang: 88-94
Tải về
Số 38 (2015) Trang: 88-94
Tải về
Số 46 (2016) Trang: 89-94
Tải về
Số 31 (2014) Trang: 93-97
Tải về
Số 41 (2015) Trang: 94-100
Tải về
Số 35 (2014) Trang: 97-103
Tải về
Volume 8, Issue 12 (2018) Trang: 452-461
Tạp chí: International Journal of Scientific and Research Publications
Volume 8, Issue 9 (2018) Trang: 415-421
Tạp chí: Intentional Journal of Scientific and Research Publications
263 (2015) Trang: 86-89
Tạp chí: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
262 (2015) Trang: 89-95
Tạp chí: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
78 (2012) Trang: 9
Tạp chí: VietFish
 

Crossref DOI of CTUJoS


BC thường niên 2018


Con số ấn tượng (VN | EN)


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...