Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số 44 (2016) Trang: 58-65
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận: 25/11/2015

Ngày chấp nhận: 25/07/2016

 

Title:

Residue concentrations of quinalphos in common carp (Cyprinus carpio), silver barb (Barbonymus gonionotus) and water in rice-fish system

Từ khóa:

Kinalux 25EC, quinalphos, hệ số nồng độ sinh học (BCF)

Keywords:

Kinalux 25EC, quinalphos, bioconcentration factor (BCF)

ABSTRACT

Quinalphos, Kinalux 25EC brand name, is popularly used in agriculture of the Mekong Delta. To figure out the residue concentration and bio-concentration ability of quinalphos in rice fish system in Co Do District, Can Tho City, Kinalux 25EC was applied twice in rice fish field with the producer recommended dose which was 170 mL/1000m2. Samples were collected at the day 1, 3, 7 and 14 after application, then, samples were continuously collected every 14 days to the end of experiment. Water samples were also collected after 30 minutes of applications. Residues of quinalphos were analysed by gas chromatography – electron capture detector system (GC-ECD). The results showed that quinalphos residues in fish tissue were much higher than in water. The half-life varied between one and two days fish tissue and around one day for water.

TÓM TẮT

Quinalphos với tên thương mại là Kinalux 25EC là loại thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng phổ biến trong nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định thời gian, nồng độ tồn lưu và nồng độ sinh học của quinalphos trong nước và cá trên mô hình lúa – cá ở huyện Cờ Đỏ - thành phố Cần Thơ. Kinalux 25EC được phun hai lần theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất (170 mL/1000m2). Mẫu được thu vào các thời điểm 1, 3, 7, 14 ngày sau khi phun thuốc tiếp theo mẫu được thu cách 14 ngày cho đến khi kết thúc thí nghiệm, riêng mẫu nước có thêm một thời điểm thu là sau khi xử lý thuốc 30 phút. Hàm lượng quinalphos được xác định trên hệ thống sắc ký khí (GC-ECD). Kết quả cho thấy tồn lưu quinalphos trên cá cao hơn rất nhiều so với nước. Thời gian bán hủy của quinalphos trên mẫu cá chép là biến động từ một đến hai ngày và trong mẫu nước là một ngày.

Trích dẫn: Nguyễn Quốc Thịnh, Trần Minh Phú, Caroline Douny, Nguyễn Thanh Phương, Đỗ Thị Thanh Hương, Patrick Kestemont, Nguyễn Văn Quí, Hồ Thị Bích Tuyền và Marie-Louise Scippo, 2016. Nồng độ quinalphos trong nước, cá chép (Cyprinus carpio) và cá mè vinh (Barbonymus gonionotus) trong mô hình lúa cá kết hợp. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 44b: 58-65.

Các bài báo khác
Số Thủy sản 2014 (2014) Trang: 278-283
Tải về
(2015) Trang: 51
Tạp chí: INTERNATIONAL SYMPOSIUM AQUATIC PRODUCTS PROCESSING: Cleaner Production Chain for Healthier Food, Can Tho University, December 7-9th 2015
1 (2014) Trang: 48
Tạp chí: International Conference on Aquaculture and Environment: A Focus in the Mekong Delta, Vietnam
 

Crossref DOI of CTUJoS


BC thường niên 2018


Con số ấn tượng (VN | EN)


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...