Page 37 - Đại học vì đồng bằng: Kiến tạo tri thức - Tiếp bước tiên phong
P. 37
Tháng 3/1976, Trường đã khai giảng năm học 1975-1976 với 2.150 sinh
viên dự lễ. Ngoài sinh viên chuyển tiếp, số sinh viên tuyển mới là 698. Năm
học 1989-1990, lần đầu tiên, nhà trường tổ chức lễ tốt nghiệp cho sinh viên.
Trước đó, sinh viên ra trường không được làm lễ tốt nghiệp mà nhận quyết định
phân công công tác đi làm việc, hai năm sau trở lại Trường nộp hồ sơ xin nhận
bằng tốt nghiệp, có lời nhận xét và chữ ký xác nhận của cơ quan nơi công tác.
Mặc dù còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất và đội ngũ, Trường cũng đã
từng bước phát triển hệ đào tạo sau đại học. Điều thú vị là Trường bắt đầu bằng
việc đào tạo tiến sĩ chứ không đi theo trình tự là đào tạo cao học rồi mới đào tạo
tiến sĩ. Công việc chuẩn bị cho đào tạo tiến sĩ khóa I của Trường ĐHCT được
giao cho bộ phận phụ trách công tác đào tạo và bồi dưỡng sau đại học của Phòng
Khoa học. Ngày 28/12/1983, Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp đã ra
quyết định số 1655/QĐ.QLKH công nhận nghiên cứu sinh và tập thể hướng dẫn
nghiên cứu sinh khóa I - 1983 của Trường ĐHCT.
Như vậy, đến năm 1990, Trường ĐHCT đã có ba cấp học là cao đẳng, đại
học và tiến sĩ, với 25 ngành đào tạo, tăng 8 ngành so với năm 1975. Trong đó,
Trường có nhiều ngành mới như kinh tế, y khoa, cơ khí, thủy nông, điện tử và tin
học. Các ngành nghề tương đối đa dạng và số sinh viên tốt nghiệp trong 15 năm
là 10.095 người, trung bình mỗi năm có 673 người, tăng 964% so với thời kỳ
Viện ĐHCT. Mô hình đa ngành của Trường ĐHCT đã được Hội đồng Bộ trưởng
khẳng định và chỉ rõ: “Xây dựng Trường ĐHCT thành trường có nhiều ngành
đào tạo, không tách Khoa Sư phạm, Y, Nông nghiệp thành các trường riêng biệt” .
8
5. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG BỐI CẢNH
BỊ BAO VÂY, CẤM VẬN
Trong hoàn cảnh khó khăn chung của cả nước, Trường ĐHCT vẫn đảm bảo
thực hiện tốt công tác nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế. Ngay trong
năm học 1975-1976, nhiều cán bộ giảng dạy đã có những công trình nghiên
cứu khoa học cấp Khoa quản lý như giống và phương pháp canh tác đậu nành
(do Tiến sĩ Nguyễn Hữu Quyền, Trưởng Bộ môn Di truyền chọn giống chủ trì);
bảo vệ thực vật nhằm giải quyết các bệnh và sâu hại lúa (do Tiến sĩ Nguyễn Thị
Thu Cúc chủ trì); vi sinh, cụ thể là men bánh nổi phục vụ sản xuất bánh mì, vi
khuẩn đậu nành, nấm ăn (do Tiến sĩ Trần Phước Đường, Bộ môn Chế biến thực
phẩm chủ trì).
8 Quyết định số 110/HĐBT ngày 8 tháng 5 năm 1985 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
KIẾN TẠO TRI THỨC – TIẾP BƯỚC TIÊN PHONG 25

