Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số 33 (2014) Trang: 131-138
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận: 22/04/2014

Ngày chấp nhận: 28/08/2014

 

Title:

The current status of technique and finance of swimming crab (Portunus pelagicus, Linnaeus 1758) fishing in the coastal zone of Phu Quoc island, Kien Giang province

Từ khóa:

Lưới rê, ghẹ, kỹ thuật, tài chính, Phú Quốc

Keywords:

Gillnets, swimming crab, technique, finance, Phu Quoc

ABSTRACT

This study was conducted through interviewing 93 fishermen in
coastal zone of Phu Quoc island from March 2013 to March 2014. Results showed that fishermen?s fishing techniques mainly based on
their experiences. Fishing boat capacity (BC, 56.25 CV), loading capacity (15.88 tons) and the net length (34.20 km) in group with BC from 45 to < 90 CV was largest and significantly different from groups with BC < 20 CV or BC from 20 to < 45 CV. Main fishing ground was in the East of the island. The larger fishing BC had the deeper and farther fishing ground from the shore. The fishing production of BC group from 20 to < 45 CV (188.6 kg/CV/season) was significantly higher than from the others. The fishing production in the Southern wind season was higher than in the Northern wind season. The profit of BC group from 20 to < 45 CV was highest in the Southern wind season. However in the Northern wind season, the profit of BC group < 20 CV was highest. Average benefit and cost ratio in fishing was 0.52 times. Swimming crab fishing activities brought a high and stable income for the local fishermen in Phu Quoc island.

TóM TắT

Nghiên cứu được thực hiện thông qua việc phỏng vấn trực tiếp 93 hộ ngư dân khai thác ghẹ ven đảo Phú Quốc từ tháng 8/2013 đến tháng 3/2014. Kết quả cho thấy kỹ thuật khai thác của ngư dân dựa chủ yếu vào kinh nghiệm. Công suất tàu (CS, 56,25 CV), tải trọng (15,88 tấn) và chiều dài lưới (34,20 km) của nhóm CS tàu 45 đến <90 CV là lớn nhất và khác biệt đáng kể so với nhóm tàu CS <20 CV và từ 20 đến <45 CV. Ngư trường khai thác chính là phía Đông của đảo. Nhóm tàu có CS càng lớn thì ngư trường càng sâu và càng xa bờ. Sản lượng khai thác ở nhóm tàu CS từ 20 đến <45 CV (188,6 kg/CV/vụ) cao hơn đáng kể so với 2 nhóm còn lại. Sản lượng khai thác ở vụ Nam cao hơn vụ Bắc. Nhóm tàu CS 20 đến <45 CV đạt lợi nhuận cao nhất ở vụ Nam. Tuy nhiên ở vụ Bắc, nhóm CS <20 CV có lợi nhuận cao nhất. Tỷ suất lợi nhuận bình quân của nghề lưới ghẹ là 0,52 lần. Hoạt động của nghề lưới ghẹ mang lại lợi nhuận cao và ổn định cho ngư dân vùng ven biển Phú Quốc.

 

Crossref DOI of CTUJoS


BC thường niên 2018


Con số ấn tượng (VN | EN)


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...