Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số 09 (2008) Trang: 132-141
Tác giả: Võ Thành Danh
Tải về

abstract

Objective of the study is to measure the economic value of groundwater pollution in theMekongDelta. Applying the contingent valuation method, the mean willingness to pay estimated by Probit model was 141,730 VND (US$8.86)/household/year. Groundwater could be an inferior good in the Delta with the negative income effect found in the demanding for clean groundwater. There were eight statistically significant variables, including both exogenous and endogenous, related to a respondent?s WTP response while there were only four statistically significantly exogenous variables affecting the maximum offer price a respondent voted for in the OLS model. Respondent?s gender and groundwater-related health risk consideration were factors sensitively affecting the WTP values. Household income had a positive effect on the probability of demanding for groundwater protection.

Keywords:Contingent valuation method (CVM), Groundwater pollution

Title: Economic valuation of groundwater protection in the Mekong Delta

TóM TắT

Đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối mặt với sự ô nhiễm tài nguyên nước ngầm. Điều này đã đặt ra yêu cầu là cần phải bảo vệ nguồn tài nguyên này. Giá trị kinh tế của việc bảo vệ tài nguyên nước ngầm không bị ô nhiễm là mục tiêu của nghiên cứu này. Vận dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên, với việc sử dụng mô hình Probit đã ước lượng giá trị bình quân của sự sẵn lòng chi trả là 141.730 đồng (tương đương 8,86 đô la Mỹ)/hộ gia đình/năm. Kết quả cho thấy rằng ở Đồng bằng sông Cửu Long, nước ngầm có thể được xem là hàng hóa thứ cấp theo mối quan hệ nghịch giữa thu nhập và nhu cầu về nước ngầm sạch. Trong mô hình OLS có 8 biến số bao gồm các biến nội sinh và biến ngoại sinh ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả, trong khi chỉ có 4 biến ngoại sinh ảnh hưởng đến mức giá được đưa ra cao nhất mà hộ gia đình chấp nhận. Giới tính của đáp viên cũng như sự cân nhắc của họ đối với những rủi ro về sức khỏe có liên quan đến nước ngầm là những nhân tố có ảnh hưởng rất nhạy cảm đến mức sẵn lòng chi trả của hộ gia đình. Ngoài ra, thu nhập của các hộ gia đình có một ảnh hưởng rõ rệt đến nhu cầu bảo vệ tài nguyên nước ngầm.

Từ khoá: Ô nhiễm nước ngầm, phương pháp định giá ngẫu nhiên

Các bài báo khác
Số 10 (2008) Trang: 185-194
Tác giả: Võ Thành Danh
Tải về
Tập 54, Số 4 (2018) Trang: 200-211
Tải về
Số 15b (2010) Trang: 264-273
Tác giả: Võ Thành Danh
Tải về
Số 27 (2013) Trang: 34-44
Tải về
Số 15b (2010) Trang: 38-45
Tác giả: Võ Thành Danh
Tải về
Số 17b (2011) Trang: 43-52
Tác giả: Võ Thành Danh
Tải về
Số 36 (2015) Trang: 64-71
Tác giả: Võ Thành Danh
Tải về
Số 28 (2013) Trang: 7-16
Tải về
Số 09 (2008) Trang:
Tác giả: Võ Thành Danh
Tải về
Võ Thành Danh (2016) Trang: 59-100
Tạp chí: Phân tích chuỗi giá trị các sản phẩm nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long
Võ Thành Danh (2016) Trang: 1-15
Tác giả: Võ Thành Danh
Tạp chí: Phân tích chuỗi giá trị các sản phẩm nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long
David James & Herminia A. Franciso (2015) Trang: 345-368
Tác giả: Võ Thành Danh
Tạp chí: Cost-Benefit Studies of Natural Resource management in Southeast Asia
2 (2015) Trang: 1-12
Tạp chí: Renewables Wind, Water, and Solar
12 (2014) Trang: 1-39
Tác giả: Võ Thành Danh
Tạp chí: Working paper of International Institute for Environment and Development
1 (2013) Trang: 202
Tạp chí: Giải pháp khai thác tiềm năng Kinh tế-Xã hội các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long theo hướng liên kết vùng
1 (2012) Trang: 277
Tác giả: Võ Thành Danh
Tạp chí: Phát triển KT-XH
(2012) Trang:
Tạp chí:  Enviromental Change and Agriculture Sustainability in the Mekong Delta
 

Crossref DOI of CTUJoS


BC thường niên 2018


Con số ấn tượng (VN | EN)


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...