Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số 35 (2014) Trang: 131-138
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận: 16/05/2014

Ngày chấp nhận: 29/12/2014

Title:

Research the chemical components and biological activities of Ngai say’s essential oil (Zingiber montanum)

Từ khóa:

Ngải sậy, chưng cất lôi cuốn hơi nước, chưng cất lôi cuốn hơi nước có sự hỗ trợ của vi sóng, độc tính trên tế bào ung thư

Keywords:

Ngai say, water distillation, steam distillation, microwave-assisted water distillation, cytotoxic

ABSTRACT

Three different methods of extraction of essential oil from rhizome of Ngai say collected from Bay Nui, An Giang have been studied including water distillation (NSC-1), steam distillation (NSC-2) and microwave-assisted water distillation (NSC-3). The overall yields of the obtained essential oils were found to be almost the same in the cases of NSC-2 and NSC-3 methods (1.439% and 1.423%, respectively) and higher than that of NSC-1 (1.261%). Negligible amount of essential oil was found for trunks and leaves based on the water distillation method (6.00x10-3 % and 4.33x10-3 %, respectively). GC-MS analysis showed that the essential oil from rhizome obtained under studied methods comprised mainly of 4-terpinenol (27 - 35%), sabinene (15 - 26%) and 1,4-bis(methoxy)-triquinacene (7 - 28%). Evaluation of bioactivity showed that the essential oils of Ngai say’s rhizome had no anti-microbial and anti-fungal properties; negligible anti-oxidation activity compared to that of vitamine C but more significant compared with other essential oils such as Curcuma longa or Cinnamomum camphora Ness; and possessed good cytotoxic acitivites toward MCF-7, MCF7/ADR, MDA-MB-231 and Hela species.

TÓM TẮT

Ba phương pháp trích ly tinh dầu từ củ Ngải sậy thu hái tại Bảy Núi, tỉnh An Giang đã được nghiên cứu bao gồm phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước trực tiếp (NSC-1), phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước gián tiếp (NSC-2) và phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước có sự hỗ trợ của vi sóng (NSC-3). Hiệu suất tinh dầu thu được trong hai phương pháp NSC-2 và NSC-3 là khá giống nhau (lần lượt là 1,439% và 1,423%) và cao hơn so với phương pháp NSC-1 (1,261%). Bên cạnh đó, tinh dầu thân và lá Ngải sậy cũng được trích ly bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước trực tiếp nhưng hiệu suất không đáng kể (tương ứng là 6x10-3% và 4,33x10-3%). Kết quả phân tích bằng phương pháp GC-MS cho thấy thành phần tinh dầu củ thu được trong cả ba phương pháp chủ yếu bao gồm 4-terpinenol (27 - 35%), sabinene (15 - 26%) và 1,4-bis (methoxy)-triquinacene (7 - 28%). Kết quả đánh giá hoạt tính sinh học cho thấy tinh dầu củ Ngải sậy thu được có hoạt tính kháng oxi hóa không đáng kể khi so với vitamin C nhưng tốt hơn tinh dầu Nghệ nhà và Long não; không có hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm trên các chủng vi sinh vật thử nghiệm nhưng thể hiện tốt hoạt tính gây độc trên 4 dòng tế bào ung thư: ung thư vú (MCF-7), ung thư vú đa kháng thuốc (MCF7/ADR), ung thư biểu mô tuyến (MDA-MB-231) và ung thư cổ tử cung (Hela).

Các bài báo khác
Số 33 (2014) Trang: 125-129
Tải về
 

Crossref DOI of CTUJoS


BC thường niên 2018


Con số ấn tượng (VN | EN)


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...