Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số Thủy sản 2014 (2014) Trang: 109-114
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận: 10/6/2014

Ngày chấp nhận: 04/8/2014

 

Title:

Experiments masculinizing guppy Poecilia reticulata by spironolactone  and identification of neomales (?XX)

Từ khóa:

Đực hóa, chân sinh dục, đực giả

Keywords:

Masculinization, gonopodium, neomale

ABSTRACT 

The guppy progenies from separately kept gravid females had been masculinized by dietary adding spironolactone (SP) treatment of the last 5 ? 14 days prior to parturition or by immersion of newborn alevins in the same steroid water. The contents of SP were 500 and 700 ppm in composed feed consisted of 1. fine fish or shrimp meal, 2. rice bran or wheat flour and 3. chicken egg yolk in following proportion: 5g : 15 g: 1 egg respectively. The SP concentrations in immersion treatments during two hours were 8 and 10 ppm.

The sexing test was performed at 90th day of age. The fish with gonopodium and other male sex secondary characteristics were considered to be the males, meanwhile the other ones without such above mentioned properties were counted as the females. The results showed that the survival rates were 81.58 ± 3.60 and 88.78 ± 2.68% the differences from the control and those treated with methytestosterone (in dietary experiments at contents of 325 and 350 ppm and in immersion treatments at concentrations of 4 and 5 ppm) were not statisticaly significant. The masculinization rates ([(male proportion in the study) ? (male proportion in control)] x (female proportion in control)-1) were 64.25 ữ 71.00 %. The masculinizing efficiencies (equal survival rate multiplified by male ratio) were 66.55 ữ 73.27 %.

The way to identify the neomales (the males with XX sex chromosome set) was discussed.

TóM TắT

Quần thể cá con của từng cá Bảy màu mẹ (nuôi riêng) được đực hóa bằng cách cho cá mẹ thức ăn trộn spironolacton (SP) 5 ? 14 ngày trước khi đẻ hoặc ngâm chúng ngay sau khi được sinh ra trong nước có pha SP. Hàm lượng SP là 500 và 700 mg/kg thức ăn gồm (1). bột cá hoặc tôm xay nhuyễn, (2) cám gạo hoặc bột mì và 3. lòng đỏ trứng gà theo tỷ lệ 5g, 15g và một lòng đỏ. Nồng độ SP ở thí nghiệm ngâm trong 2 giờ là 8 và 10 mg/l.

Việc kiểm tra giới tính được thực hiện ở ngày tuổi 90. Những cá có chân sinh dục (gonopodium) và những đặc điểm sinh dục đực thứ cấp khác được coi là cá đực, những cá thiếu các đặc điểm nói trên được tính là cá cái. Kết quả cho thấy tỷ lệ sống là 81,58 ± 3,60 ữ 88,78 ± 2,68% , sự khác biệt so với đối chứng và những cá được xử lý bằng methyltestosteron (MT) trong các nghiệm thức cho ăn, hàm lượng MT bằng 325 và 350 mg/kg, còn trong các thí nghiệm ngâm, nồng độ MT bằng 8 và 10 mg/l là không có ý nghĩa. Tỷ lệ đực hóa bằng 64,25 ữ 71,00 %. Hiệu suất đực hóa bằng 66,55 ữ 73,27 %.

Vấn đề nhận biết những cá đực mang bộ nhiễm sắc thể giới tính XX được thảo luận.

 

CTUJoS indexed by Crossref

Vietnamese | English


BC thường niên 2019


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...