Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số Thủy sản 2014 (2014) Trang: 138-144
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận: 10/6/2014

Ngày chấp nhận: 04/8/2014

 

Title:

Growth and survival rates of hybrids between two strains of climbing perch (Anabas testudineus) from fry to juvenile stages

Từ khóa:

Cá rô đồng, Anabas testudineus, tăng trưởng, tỉ lệ sống, ương nuôi, lai chéo

Keywords:

Climbing perch, Anabas testudineus, growth, survival rate, rearing, crossbreeding

Abstract

This study aimed to compare growth and survival rates of hybrids between two strains of climbing perch parents including wild strain sampled in Ca Mau (CM) and square ? head (DV) strain collected in Hau Giang. Four fish treatments including 2 reciprocal hybrids and 2 parent strains were reared in two completely randomized design experiments. First, fish were reared from fry to fingerling stage for 14 days in 12 tanks (200 L) with the density of 425 individuals/tank. They were fed live food (Rotifera, moina, and red worm) combined with commercial pellet (10 days after stocking). In the second experiment (15 to 55 days old), fish were stocked 140 individuals/200-L tank with 4 replicates, and fed commercial pellet  containing 42% protein. After 14 days, CM and CMxDV hybrid had insinificantly higher length (19.5 and 19.3 mm , respectively) and higher survival rates (64.7 and 81.9%, respectively) compared to DV and DVxCM hybrid (length:17.2 and 17.9 mm; survival:52.1 and 52.9%, respectively). After 55 days, growth and survival rates of 2 reciprocal hybrids were not significantly different from  2 parent strains (p>0.05). Weight and lenght of  4 treatments of fish averaged 1.51 ? 1.94 g and 40.2 ? 45.4 mm, respectively. Survival rates of fish ranged 40.8 ? 61.9%. Therefore, growth and survival of two hybrids from fry to juvenile stages were similar to those of two parent strains.

TóM TắT

Nghiên cứu nhằm so sánh tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá rô lai giữa hai dòng cá bố mẹ: dòng cá tự nhiên thu ở Cà Mau (CM) và cá rô đầu vuông (ĐV) thu ở Hậu Giang. Bốn nhóm cá bột gồm 2 con lai (CMxĐV và ĐVxCM), và 2 dòng cá bố mẹ (CM và ĐV) được ương trong hai thí nghiệm bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên. Trong thí nghiệm 1, ương từ cá bột đến 14 ngày, cá được bố trí trong 12 bể (200 L) với mât độ 425 cá thể/bể và được cho ăn thức ăn tươi sống (luân trùng, trứng nước và trùn chỉ) kết hợp với thức ăn công nghiệp (bắt đầu từ ngày thứ 10 sau khi bố trí). ở thí nghiệm 2, tương ứng với giai đoạn ương từ 15 đến 55 ngày, cá được bố trí 140 cá thể/bể 200L với 4 lần lặp lại. Cá được cho ăn thức ăn công nghiệp 42% đạm. Sau 14 ngày, chiều dài của cá CM và con lai CMxĐV (tương ứng 19,5 và 19,3 mm ) lớn hơn và tỉ lệ sống (tương ứng 64,7 và 81,9%) cao hơn nhưng không có ý nghĩa (p>0,05)so với cá ĐV và con lai ĐVxCM (chiều dài:17,2 và 17,9 mm; tỉ lệ sống:52,1 và 52,9%). Sau 55 ngày, sinh trưởng và tỉ lệ sống của hai con lai tương đương với 2 dòng cá bố mẹ (p>0,05). Khối lượng và chiều dài của 4 nhóm cá dao động từ 1,51 ? 1,94 g và 40,2 ? 45,4 mm. Tỉ lệ sống của cá đạt từ 40,8 ? 61,9%. Như vậy, ở giai đoạn cá bột lên giống, tăng trưởng và tỉ lệ sống của hai con lai cá rô tương đương với hai dòng cá bố mẹ.

 

CTUJoS indexed by Crossref

Vietnamese | English


BC thường niên 2019


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...