Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số Thủy sản 2014 (2014) Trang: 196-201
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận: 10/6/2014

Ngày chấp nhận: 04/8/2014

 

Title:

Eluavation growth and densities increase of  oligochaeta worm  (Limnodrilus hoffmeisteri) in different food

Từ khóa:

L. hoffmeisteri, cow manure, chicken manure, rice bran

Keywords:

L.hoffmeisteri, phân bò, phân gà, cám gạo

ABSTRACT

A tubificid worm Limnodrilus hoffmeisteri (Claparede, 1862) is one of the oligochaeta worm, fed on detritus, distributed high density in the bottom of freshwater bodies. They have been playing an important role in the decomposing the organic compounds, reducing the polluted matter in the environment. Therefore, the L.hoffmeisteri has been considered as an indicator organism. In aquaculture, L.hoffmeisteri is being fed for fish, crustaceans at their first feeding. The study was conducted to determine the suitable feed for propagation of L.hoffmeisteri. After 42 days of experiment, the biomass and density of L.hoffmeisteri were the best at the treatment with rice bran (the worms increased by 4,53±0,10 times and density increased 9,12 ± 0,62 times), and the worst results were shown in worms fed on chicken manure (the biomass and density were increased only 1,13±0,25 times and 1,42±0,31 times, respectively) and cow manure (the biomass and the density were increased 1,21±0,28 times and 1,02±0,15 times, respectively). To be concluded, rice bran was the most suitable feed that resulted in the best performance of the worm population.

TóM TắT

Trùn chỉ (Limnodrilus hoffmeisteri) là một trong những loài giun ít tơ phân bố với mật độ cao ở nền đáy các thủy vực nước ngọt, sử dụng các chất hữu cơ lắng đọng làm thức ăn. Chúng đóng vai trò quan trọng trong việc phân hủy hợp chất hữu cơ, giảm ô nhiễm môi trường. Vì vậy, trùn chỉ được xem là một trong những sinh vật chỉ thị môi trường. Trong nuôi trồng thủy sản, trùn chỉ được sử dụng làm thức ăn đầu tiên của nhiều loài cá, giáp xác. Nghiên cứu này được tiến hành nhằm tìm ra nguồn thức ăn thích hợp nhất cho trùn chỉ để áp dụng vào nuôi sinh khối chúng. Sau 42 ngày thí nghiệm, sinh khối cũng như mật độ cá thể trùn chỉ tăng cao nhất ở nghiệm thức cho ăn bằng cám gạo (sinh khối tăng 4,53±0,10 lần, mật độ gia tăng 9,12 ± 0,62 lần), thấp nhất ở nghiệm thức cho ăn phân gà (sinh khối tăng 1,13±0,25 lần, mật độ gia tăng 1,42±0,31 lần) và cho ăn phân bò (sinh khối tăng 1,21±0,28 lần, mật độ tăng 1,02 ± 0,15 lần). Như vậy, sử dụng thức ăn là cám gạo khả năng sinh trưởng và gia tăng mật độ của quần thể trùn chỉ tốt nhất.  

 

CTUJoS indexed by Crossref

Vietnamese | English


BC thường niên 2019


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...