Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số Thủy sản 2014 (2014) Trang: 86-94
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận: 10/6/2014

Ngày chấp nhận: 04/8/2014

 

Title:

The survey on the current status and trial of freshwater prawn (Macrobrachium rosenbergii De Man, 1879) culture in the coconut garden ditches in Thanh Phu district, Ben Tre province

Từ khóa:

Tôm càng xanh, mương vườn dừa, mật độ, tỷ suất lợi nhuận

Keywords:

Giant freshwater prawn, coconut garden ditches, stocking density, cost benefit ratio

ABSTRACT

The survey on the current status of giant freshwater prawn (Macrobrachium rosenbergii de Man, 1879) cultured in coconut garden ditches was conducted and a trial on prawn culture was carried out with three different stocking densities (5, 7 and 9 PL15/m2) in Thanh Phu district, Ben Tre province, from June 2012 to February 2013. The area each ditch was 3,000 m2, kinds of feed were used pellet and live food. Prawns were harvested after 6 months. In the trial on freshwater prawn culture at different stocking densities, water quality parameters (temperature, DO, water pH, N-NH4 and chlorophyll-a) were in suitable ranges for growth of giant freshwater prawn. Daily weight gain of prawn in the treatment I (5 PL15/m2), II (7 PL/m2) and III (9 PL/m2) were 0.05 ? 0.42 g/day, 0.04 ? 0.33 g/day and 0.04 ? 0.30 g/day, respectively. The survival rate and yield of prawns in treatments I, II and III were 18,7% and 42.6 kg/1,000 m2; 15,1% and 45.8 kg/1,000 m2; and 16,5% and 60.1 kg/1,000 m2, respectively. The profit in treatment III (5.32 million VND/1,000 m2) was highest.  In conclusion, stocking 9 PL/m2 obtained high efficiency and could be applied for giant freshwater prawn farming in the coconut garden ditches.

TóM TắT

Khảo sát hiện trạng và thí nghiệm nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii de Man, 1879) trong mương vườn dừa được thực hiện với ba nghiệm thức mật độ khác nhau (5, 7 và 9 PL15/m2) tại huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre từ tháng 6 năm 2012 đến tháng 2 năm 2013. Diện tích mương 3.000 m2/mương, sử dụng thức ăn viên kết hợp thức ăn tươi sống. Tôm được thu hoạch sau 6 tháng nuôi. Trong thí nghiệm nuôi tôm càng xanh trong mương vườn dừa ở các mật độ các yếu tố về chất lượng nước (nhiệt độ, DO, pH nước, N-NH4 và chlorophyll-a) đều nằm trong giới hạn thích hợp cho tôm càng xanh phát triển. Tốc độ tăng trưởng của tôm ở nghiệm thức I (5 PL15/m2) là 0,05 ? 0,42 g/ngày, nghiệm thức II (7 PL15/m2) là 0,04 ? 0,33 g/ngày và nghiệm thức III (9 PL15/m2) là 0,04 - 0,30 g/ngày. Tỷ lệ sống và năng suất của tôm nuôi trong nghiệm thức I, II và III lần lượt là 18,7 % và 42,6 kg/1.000 m2; 15,1 % và 45,8 kg/1.000 m2; 16,5 % và 60,1 kg/1.000 m2. Lợi nhuận ở nghiệm thức III (5,32 triệu đồng/1.000 m2) là cao nhất. Nuôi tôm càng xanh trong mương vườn dừa ở mật độ 9 con/m2đạt hiệu quả cao và có thể ứng dụng vào thực tế sản xuất.

 

CTUJoS indexed by Crossref

Vietnamese | English


BC thường niên 2019


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...