Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số 42 (2016) Trang: 50-57
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận: 11/06/2015

Ngày chấp nhận: 29/02/2016

Title:

Assessment on efficiency of intensive white leg shrimp farm forms in the Mekong Delta

Từ khóa:

Hình thức nuôi tôm, hiệu quả, khía cạnh kỹ thuật, tài chính, thâm canh, tôm thẻ chân trắng

Keywords:

Efficiency,  financial aspect, intensive farming, shrimp farming form, technical aspect, white leg shrimp

ABSTRACT

The study was conducted from September 2014 to February 2015 through a randomized survey of 90 small scale white leg shrimp farmers (HH), 12 cooperatives (Co), 12 Farms (F), and 12 companies (Com) using questionnaires. The results indicated that the total cultured area (ha/HH) and cultured ponds (ponds/HH) of HH, respectively 4.6 and 4.9, were the lowest amongst other forms such as Co (32.4; 30.3), F (15.1; 13.1) and Com (92.9; 83.7). Stocking densities, survival rate, cultured periods and harvested size of shrimp were highest in Com, followed by F, Co, HH, respectively. Shrimp yielded respectively 13.9, 10.6, 10.9 and 8.37 tons/ha/crop. The production costs were lowest in F and highest in Com (67.5 and 73.9 VND/kg, respectively). The profits (millionVND/ha/crop) of all cultured forms were rather high, HH (596), Co (692), F (696), and Com (1,038). Benefit-cost ratios were of 1.00. 0.85, 1.03, and 1.04 times respectively. Profitability ratio in this research was very high, except for HH (unprofitable 6% of HH). Biosecurity level and staff capacity building activities were more considered in Com form than in the others.

TÓM TẮT

Nghiên cứu này đã được thực hiện từ tháng 9/2014-2/2015, thông qua việc khảo sát 90 nông hộ nuôi tôm thẻ chân trắng nhỏ lẻ (NH), 12 tổ hợp tác (THT) 12 trang trại (TT) và 12 công ty (CT) bằng bảng câu hỏi được soạn sẵn. Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng diện tích của NH (ha/hộ) và số ao nuôi (ao/hộ) tương ứng là 4,6 và 4,9 thấp hơn THT (32,4; 30,3), TT (15,1; 13,1 ) vàCT (92,9; 83,7). Mật độ nuôi, tỷ lệ sống, thời gian nuôi và kích cỡ tôm thu hoạch ở hình thức CT đạt cao nhất kế đến là TT, THT, NH, tương ứng năng suất tôm nuôi lần lượt là 13,9; 10,6; 10,9 và 8,37 tấn/ha/vụ. Giá thành sản xuất thấp nhất ở hình thức TT và cao nhất là CT, dao động 67,5-73,9 ngàn đồng/kg. Lợi nhuận (tr.đ/ha/vụ) của các hình thức nuôi là khá cao, lần lượt là NH (596), THT (692), TT (696) và CT (1.038), tương ứng với tỷ suất lợi nhuận lần lượt là 1,0; 0,85; 1,03 và 1,04 lần. Tỷ lệ sinh lời trong nghiên cứu này là rất cao, trừ hình thức NH có 6% hộ lỗ. Mức an toàn sinh học và hoạt động nâng cao năng lực người nuôi ở CT được quan tâm hơn so với các hình thức còn lại.

 

Crossref DOI of CTUJoS


BC thường niên 2018


Con số ấn tượng (VN | EN)


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...