Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số 25 (2013) Trang: 223-230
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận: 09/11/2012

Ngày chấp nhận: 22/03/2013

 

Title:

Investigation on nursing and culture of Snakehead (Channa striata Bloch, 1793) in nylon tanks at different stocking densities

Từ khóa:

Cá lóc, mật độ cao, thức ăn công nghiệp, bể lót bạt, hệ số thức ăn

Keywords:

Snakehead, high densities, pellet, lined tanks, FCR

ABSTRACT

The experiments on nursing and farming snakehead (Channa striata) at different densities using pellet were conducted. Fry, 15 days after hatching out were stocked at densities of 300, 400, 500 fish/500 L tanks. Fish were fed pellet at 44% crude protein. The results showed that the water quality parameters were in the suitable ranges for fish growth. Specific growth rates of fish were from 5.76 - 6.17%/day. High survival rate of snakehead was in the treatment 400 fish/m2 (74.7%) and the lowest was in the treatment 300 fish/m2 (70.4%). However, the survival rates of snakehead were no significant difference among treatments (p>0.05). The trials on snakehead culture were monitored in the lined tanks (15 m2). Three replications treatments of stocking densities were 100, 150 and 200 fish/m2. This experiment was randomly designed in 9 tanks belonging to nice households. Water quality parameters in the tanks were in suitable ranges for fish growth. After 4.5 months, the mean weights of fish ranged from 517 ± 38 to 684 ± 76 g/fish. Survival rates were 39.7 ± 0.57 to 79.6 ± 8.08%. At the stocking densities of 100 and 200 fish/m2, production were 43.9 ± 7.10 and 55.6 ± 5.09 kg/15 m2, respectively. The production of fish stocked at 150 fish/m2 was significantly lower than that of other treatments (p<0.05). Generally, the stocking densities of 200 fish/m2 reached the high yield and profit.

TóM TắT

Cá lóc (Channa striata)15 ngày tuổi được bố trí ương trong bể composite ở 3 mật độ 300, 400, 500 con/m2và ương bằng thức ăn công nghiệp (44% đạm). Kết quả một số yếu tố môi trường theo dõi nằm trong khoảng thích hợp cho sự sinh trưởng của cá con. Tỉ lệ sống của cá lóc cao nhất ở nghiệm thức 400 con/m2 (74,72%) và thấp nhất là ở nghiệm thức 300 con/m2 (70,37%). Tỷ lệ sống của cá lóc khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (p>0,05). ở thí nghiệm nuôi cá lóc thương phẩm, cá lóc được nuôi trong bể lót bằng bạt nylon (15 m2).Thí nghiệm gồm ba nghiệm thức mật độ cá thả là 100, 150, 200 con/m2 được bố trí tại 9 nông hộ. Các yếu tố môi trường nước trong bể nằm trong khoảng thích hợp cho cá sinh trưởng. Sau 4,5 tháng nuôi, cá đạt khối lượng trung bình từ 517 đến 684 g/con. Tỷ lệ sống của cá là 39,67 đến 79,60 %. Năng suất trung bình cá ở mật độ 100 và 200 con/m2 lần lượt là 43,87 và 55,56 kg/m2, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). ở mật độ và 150 con/m2, năng suất đạt thấp hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với 2 nghiệm thức còn lại. Nuôi cá lóc trong bể lót bạt ở mật độ 200 con/m2 mang lại hiệu quả cao.

 

Crossref DOI of CTUJoS


BC thường niên 2018


Con số ấn tượng (VN | EN)


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...