Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
ISSN 1859-4581 (2014) Trang: 65-72
Tạp chí: Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn
Liên kết: http://

Nhằm so sánh khía cạnh kỹ thuật và tài chính của các hình thức sản xuất trong nuôi tôm sú thâm canh ở huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, nghiên cứu này đã được thực hiện thông qua việc bố trí 3 ao thí nghiệm (TN) đồng thời theo dõi 3 ao ở mỗi hệ thống sản xuất (HTSX) gồm hộ nông dân (ND); tổ hợp tác (THT) và công ty (Cty). Kết quả cho thấy diện tích ao nuôi ở THT (0,62 ha/ao) lớn hơn so với TN (0,32), ND (0,55) và Cty (0,54). Tôm giống thả nuôi (PL12) đã được xét nghiệm PCR 100% ở TN và các HTSX. Thời gian nuôi của TN và THT ngắn hơn so với ND và Cty, nhưng cỡ tôm thu hoạch không khác biệt (từ 21,8-26,7 g/con). Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) ở TN (1,23) thấp hơn so với các HTSX còn lại (1,41-1,59). Tỉ lệ sống (từ 75,1-86,7%) và năng suất tôm nuôi (từ 5,9-7,73 tấn/ha/vụ) không khác biệt giữa TN và các HTSX. Các yếu tố môi trường thích hợp cho tôm tăng trưởng (3,92-4,70 %/ngày và từ 0,17-0,23 g/ngày). Tổng chi phí từ 635-800 tr.đ/ha/vụ. Giá thành sản xuất của TN là 91,6 nghìn đồng/kg thấp hơn từ 20,4-37,4 nghìn đồng/kg, nhưng giá bán (122 nghìn đồng/kg) cao hơn từ 3-21 nghìn đồng/kg so với các HTSX còn lại. Do đó lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận của TN cao hơn so với các HTSX khác. Ngoài ra, những thuận lợi và khó khăn trong các HTSX cũng được phân tích trong nghiên cứu này.

 

CTUJoS indexed by Crossref

Vietnamese | English


BC thường niên 2019


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...