Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số 35 (2014) Trang: 78-89
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận: 17/06/2014

Ngày chấp nhận: 29/12/2014

Title:

Quantifying and qualifying sediment load from intensive catfish (Pangasianodon hypophthalmus) ponds and sediment application for vegetable-cultured

Từ khóa:

Nuôi thâm canh cá tra, bùn đáy ao, chất lượng bùn đáy ao, trồng rau

Keywords:

Intensive catfish culture, sediment, sediment quality, vegetable plantation

ABSTRACT

The study was conducted in 4 intensive catfish ponds in Chau Thanh district, Dong Thap province. At each pond, 5 stations were set to measure sediment deposition throughout the culture period (time-step of measuring was once every month). After 2 months of culture, the thickness of sediment layer was 7 cm and averagely increased about 10 cm per month in following months. By using submerged pump, sediment volume was determined about 1,624 m3/ha after 3 months of culture, and increasing rate of sediment volume was 1,000 m3/ha/month. Average humidity of sediment was 58,56 ± 0,46% and average organic concentration was about 3,95 ± 0,12%C. Sediment dried at room temperature contained 3,88 ± 0,2%C, 0,33 ± 0,02%N and  0,79 ± 0,04%P2O5for organic, total of nitrogen and total of phosphorus, respectively; these parameters significantly decreased at 2,58 ± 0,16 %C, 0,23 ± 0,02%N and 0,41±0,04 %P2O5 respectively, if sediment was continuously pumped. Sediment used for convolvulus plantation, the convolvulus yield of stage 1 and stage 2 were 15,32±0,33 ton/ha and 22,72±1,78 ton/ha, respectively. The convolvulus yield was significantly higher in comparison to those in local agriculture land (with and without application of the NKP fertilizer).

TÓM TẮT

Thí nghiệm được thực hiện trên 4 ao nuôi thâm canh cá tra tại huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp, mỗi ao đặt 5 điểm khảo sát để đo sự tích tụ của bùn theo thời gian nuôi (đo 1 lần/tháng). Độ dày lớp bùn trong đáy ao sau 2 tháng nuôi khoảng 7 cm và những tháng tiếp theo bùn đáy tích tụ tăng bình quân khoảng 10 cm/tháng. Với phương pháp bơm bằng cách dùng máy lặn, thể tích bùn bơm lên sau 3 tháng nuôi ước đoán khoảng 1.624 m3/ha và những tháng tiếp theo tốc độ tăng thể tích bùn là 1.000 m3/ha/tháng.  Ẩm độ bùn đáy ao trung bình là 58,56 ± 0,46%; chất hữu cơ trung bình khoảng 3,95 ± 0,12%C. Bùn đáy ao để khô ở nhiệt độ phòng có hàm lượng chất hữu cơ, đạm tổng và lân tổng lần lượt là 3,88 ± 0,2%C, 0,33 ± 0,02%N và 0,79 ± 0,04%P2O5 và các chỉ tiêu này giảm nhiều khi bơm lên liếp lần lượt là 2,58 ± 0,16%C, 0,23 ± 0,02%N và 0,41 ± 0,04%P2O5. Bùn đáy ao sử dụng trồng rau muống cho năng suất đợt I và II lần lượt là 15,32 ± 0,33 tấn/ha và 22,72 ± 1,78 tấn/ha, cao hơn hẳn so với trồng trên đất ở địa phương có và không có bón phân NKP.

Các bài báo khác
Số 34 (2014) Trang: 128-136
Tải về
 

Crossref DOI of CTUJoS


BC thường niên 2018


Con số ấn tượng (VN | EN)


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...