Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số Thủy sản 2014 (2014) Trang: 83-91
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận: 10/6/2014

Ngày chấp nhận: 04/8/2014

 

Title:

Effects of stocking densities on the growth and survival rate of juvenile black apple snail Pila polita

Từ khóa:

ốc bươu đồng, Pila polita, mật độ, sinh trưởng, tỷ lệ sống

Keywords:

Black apple snail, Pila polita, growth, survival

ABSTRACT    

This study was conducted to evaluate the effects of different stocking densities on the growth and survival rate of black apple snail, Pila polita. There were 4 stocking densities and 3 replicates were run per each treatment as follow: 300, 600, 900, 1200 ind/m2. Snails with initial weight (0.03 g) and shell height (4.25 mm) were reared in the composite tanks and fed with pellet (18% protein). After 35 days, the survival rate at 300 ind./m2 (97.1%) was higher than at 600 ind./m2 (90.1%), 900 ind./m2 (85.4%) and 1200 ind/m2 (83.4%) and there was significant difference (p<0.05) among treatments. Rearing at 300 ind./m2,snails reached highest body weight and shell height  (0.22 g and 9.81 mm, respectively) compared to 600 ind./m2 (0.18 g and 9.40 mm), 900 ind./m2 (0.14 g and 8.29 mm) and 1200 ind./m2 (0.12 g and 7.77 mm). At the stocking density of 600 ind./m2 snails also presented lowest FCR (0.32). It was similar to the value in 300 ind./m2 (0.36) and significant difference (p <0.05) compared to 900 ind./m2 (0.44) and 1200 ind./m2 (0.50). The results from this study will provide the basis information for further scientific research for nursing techniques to develop Black apple snail culture in the Mekong Delta.

TóM TắT

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của các mật độ ương khác nhau lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ốc bươu đồng (Pila polita). Mỗi nghiệm thức có 3 lần lặp lại và với các mật độ: 300, 600, 900, 1200 con/m2. ốc được cho ăn thức ăn công nghiệp (18% đạm), khối lượng và chiều cao ban đầu của ốc giống là 0,03 g và 4,25 mm. Sau 35 ngày ương, tỷ lệ sống ở mật độ 300 con/m2 (97,1%) cao hơn so với mật độ 600 con/m2 (90,1%), mật độ 900 con/m2 (85,4%) và mật độ 1200 con/m2 (83,4%) khác biệt có ý nghĩa (p<0,05). Khối lượng và chiều cao trung bình của ốc ương mật độ 300 con/m2 (0,22 g và 9,81 mm) cao hơn (p<0,05) so với mật độ 600 con/m2 (0,18 g và 9,40 mm), 900 con/m2 (0,14 g và 8,29 mm) hoặc 1200 con/m2 (0,12 g và 7,77 mm). Ương ốc bươu đồng với mật độ 600 con/m2 có hệ số  thức ăn thấp nhất (0.32) kế tiếp 300 con/m2 (0.36) và khác biệt (p<0,05) so với mật độ 900 con/m2 (0.44) hoặc 1200 con/m2 (0.50). Kết quả từ nghiên cứu này sẽ cung cấp những cơ sở thông tin cho những nghiên cứu tiếp theo nhằm xây dựng kỹ thuật ương ốc giống để phát triển nghề nuôi ốc bươu đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Các bài báo khác
Tập 54, Số CĐ Thủy sản (2018) Trang: 65-71
Tải về
 

CTUJoS indexed by Crossref

Vietnamese | English


BC thường niên 2019


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...