Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số 32 (2014) Trang: 1-8
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận: 02/03/2014

Ngày chấp nhận: 30/06/2014

 

Title:

Current status of rabbit production in the Mekong Delta of Vietnam

Từ khóa:

Loài gậm nhấm, rau cỏ, giá trị dinh dưỡng, năng suất, phát triển

Keywords:

Rodents, forages, nutritional value, performance, development

ABSTRACT

The objective of this survey was to obtain information on the current status of husbandry, nutrition, feed utilization and performances of rabbits in the Mekong Delta (MD) in order to identify and prioritize research needs for future studies. A survey was conducted on 53 rabbit farms in 12 provinces/cities in the MD. The results showed that rabbits are mainly raised for meat and laboratorial tests and. crossbred rabbits (New Zealand x local) were the most popular (75.5%) in this region. Forage sources such as natural grasses, sweet potato vines and water spinach were often used as basal diets, while brewery waste, soybean waste and concentrates were used as supplements. The dietary crude protein (13.9-14.1%) was low as compared to the requirements of the temperate rabbits (15-19%). The nutrient intakes (58.4 g DM, 7.84 g CP and 680 kJ ME per rabbit/day) and growth rate (13.2 g/rabbit/day) of meat rabbits were lower than domestic data reported (16.7-24.5 g/rabbit/day). Rabbit production in the MD has advantages of easy sale, yearly available feed sources and adaptable breeds but due to limited knowledge on nutritional techniques, the production has not reached its potential.  It is recommended that more studies on nutrient requirements and local feeds for crossbred rabbits should be considered to serve for extension activities in raising rabbits.

TóM TắT

Mục đích của điều tra này là thu nhận các thông tin về hiện trạng chăn nuôi, dinh dưỡng, sự tận dụng thức ăn và thành tích của thỏ được nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) để xác định và đặt ưu tiên các yêu cầu nghiên cứu cải thiện năng suất của thỏ ở tương lai. Nghiên cứu được thực hiện bằng cách điều tra trong 12 tỉnh/thành ở ĐBSCL với 53 trại thỏ được lựa chọn phỏng vấn, lấy mẫu và đánh giá. Kết quả cho thấy rằng mục đích chính của người nuôi thỏ ở ĐBSCL là bán thịt và làm vật thí nghiệm. Giống thỏ lai (New Zealand x địa phương) được nuôi phổ biến nhất (75,5%). Các loại thức ăn thô xanh (cỏ tự nhiên, rau lang và rau muống) thường được dùng làm khẩu phần cơ bản, các loại phụ phẩm (bã đậu nành và bã bia) và thức ăn hỗn hợp là nguồn thức ăn bổ sung. Mức độ protein thô (13,9-14,1%) khẩu phần nuôi thỏ ở ĐBSCL thấp hơn khuyến cáo của các nước ôn đới (15-19%). Lượng tiêu thụ dưỡng chất (58,4 gDM; 7,84 gCP; 680 kJME/con/ngày) và tăng khối lượng (13,2 g/con/ngày) của thỏ thịt thấp hơn các kết quả thông báo trong nước (16,7-24,5 g/con/ngày). Chăn nuôi thỏ ở ĐBSCL có nhiều thuận lợi như dễ bán, nguồn thức ăn sẵn có quanh năm và giống phù hợp. Tuy nhiên, sự hiểu biết về kỹ thuật nuôi dưỡng của người dân còn hạn chế nên năng suất còn thấp. Khuyến cáo của đề tài là tăng cường nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng và kết hợp các loại thức ăn địa phương cho thỏ lai ở ĐBSCL để phục vụ công tác khuyến nông trong chăn nuôi thỏ.

Các bài báo khác
Số 33 (2014) Trang: 36-45
Tải về
Số 35 (2014) Trang: 38-47
Tải về
 

CTUJoS indexed by Crossref

Vietnamese | English


BC thường niên 2018


Con số ấn tượng (VN | EN)


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...