Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số 45 (2016) Trang: 97-109
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận: 05/04/2016

Ngày chấp nhận: 29/08/2016

 

Title:

Fisrt data about landsnail in the island of Kien Hai district - Kien Giang province

Từ khóa:

Đa dạng loài, ốc cạn, đảo Lại Sơn, đảo Hòn Tre, đảo An Sơn

Keywords:

Diversity of species, land snails, Hon Tre island, Lai Son island, An Son island

 

ABSTRACT

Land snail samples were collected qualitatively and quantitative in October, November 2013 and October 2014 at 49 locations of three islands (Hon Tre, Lai Son, and An Son islands) with four different habitats (natural forest, planted forest, long-term trees garden and short-term trees garden). Through analysis of 4,471 land snail individuals, in which 833 individuals were collected in 102 quantitative sites, the results showed that there were 25 species, classified into 20 genera, 12 families, 2 subclasses. Among these species, 2 species were firstly found in Vietnam (Quirosella knudseni Clench, 1958; Pleurodiscus balmei (Potiez & Michaud, 1838)), 9 species were firstly found in Mekong Delta (Vietnam) and 6 taxa were unidentified to species the scientific name. The subclass Pulmonata had the most various species (76%) and the families Cyclophoridae and Camaenidea had the most numerous species (5 species). The distribution area of land snails in the islands of Kien Hai district, Kien Giang province seemed to be more similar to surrounding nations than that in the North of Vietnam. Species composition, diversity index and density of snail were found to decrease as going from near to far islands with respect to the mainland. Cyclotus fasciatus Von Martens, 1864 and Quantula striata (Gray, 1834) were the dominant species.

TÓM TẮT

Mẫu ốc cạn được thu định tính và định lượng vào tháng 10, 11 năm 2013 và tháng 10 năm 2014, ở 49 địa điểm trên 3 đảo (Hòn Tre, Lại Sơn và An Sơn), trong 4 sinh cảnh (rừng tự nhiên, rừng trồng, đất trồng cây lâu năm và đất trồng cây ngắn ngày). Qua phân tích 4.471 cá thể ốc cạn, trong đó có 833 cá thể thu ở 102 ô định lượng, đã xác định được 25 loài thuộc 20 giống, xếp vào 12 họ, 3 bộ và 2 phân lớp. Trong số các loài trên, có 2 loài mới gặp ở Việt Nam (Quirosella knudseni Clench, 1958; Pleurodiscus balmei (Potiez & Michaud, 1838)), 9 loài mới được ghi nhận lần đầu ở Đồng bằng sông Cửu Long và 6 taxa chưa xác định được tên khoa học đến loài (Platyraphe sp., Megaustenia sp., Haploptychius sp.1, Haploptychius sp. 2, Oxyloma sp., Semperula sp.). Phân lớp ốc có phổi có số loài phong phú nhất (chiếm 76% tổng số loài), họ Cyclophoridae và Camaenidea có nhiều loài nhất (mỗi họ có 5 loài). Khu hệ ốc cạn các đảo ở khu vực nghiên cứu có xu hướng gần với khu hệ ở các nước lân cận hơn phía Bắc nước ta. Thành phần loài, chỉ số đa dạng và mật độ ốc cạn giảm dần ở các đảo từ gần đến xa đất liền, 2 loài Cyclotus fasciatus Von Martens, 1864 và Quantula striata (Gray, 1834) chiếm ưu thế tuyệt đối về mật độ trên tất cả các đảo trong khu vực nghiên cứu.

Trích dẫn: Nguyễn Thanh Tùng và Nguyễn Văn Bé, 2016. Dẫn liệu đầu tiên về ốc cạn ở một số đảo thuộc huyện Kiên Hải - tỉnh Kiên Giang. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 45a: 97-109.

Các bài báo khác
Số 32 (2014) Trang: 106-119
Tải về
Số 22a (2012) Trang: 143-153
Tải về
Số 10 (2008) Trang: 59-66
Tải về
Số 53 (2017) Trang: 96-107
Tải về
38(4) (2016) Trang: 442-448
Tạp chí: Tạp chí Sinh học
1 (2012) Trang: 202
Tạp chí: Nghiên cứu giảng dạy Sinh học
57 (2012) Trang: 72
Tạp chí: Che Bio Sci
1 (2012) Trang: 385
Tạp chí: Nghiên cứu giảng dạy Sinh học
 

Crossref DOI of CTUJoS


BC thường niên 2018


Con số ấn tượng (VN | EN)


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...