Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số 53 (2017) Trang: 96-107
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận bài: 19/07/2017
Ngày nhận bài sửa: 31/08/2017

Ngày duyệt đăng: 29/11/2017

 

Title:

Diversity and distribution of earthworms in Ba Ria - Vung Tau province

Từ khóa:

Bà Rịa - Vũng Tàu, đa dạng loài, đặc điểm phân bố, giun đất, Pheretima sensu stricto

Keywords:

Ba Ria - Vung Tau, distribution, earthworms, Pheretima sensu stricto, species diversity

ABSTRACT

Basing on the analysis of 1200 earthworms individuals in 58 sites in Ba Ria - Vung Tau province on October 2016, this study inventoried that there were 26 species of earthworm in 10 genera and 5 families. Of those species, seventeen species were firstly recorded in the study area; additionally, the genus Pheretima sensus stricto was firstly recorded in Vietnam, and the species Metphire mangophila (Nguyen, 2011) was adjusted as a junior synonym of Metaphire easupana (Thai & Huynh, 1993). Regarding to species composition and community structure, family Megascolecidae absolutely dominated with 22 species (84.60%); families Almidae, Rhinodrilidae, Moniligastridae and Octochaetidae with 1 species for each one. The genus Metaphire (12 species) and Amynthas (5 species) were more dominant than other genera; the genus Polypheretima was not distributed in mainland of the study site. Within the study area, the similarity index of species composition among terrains is rather high as over 60%, but low as of 29.91%–53.76% among habitats. Dominance index of earthworm species in the study area was low (λ < 0.24), However, M. bahli, A. polychaetiferus and M. houlleti were more dominant than other species.

TÓM TẮT

Trên cơ sở phân tích 1.200 cá thể giun đất được thu định tính ở 58 điểm thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vào tháng 10 năm 2016, nghiên cứu này đã tổng kết được 26 loài giun đất xếp trong 10 giống và 5 họ. Trong số các loài trên, có 17 loài lần đầu tiên được ghi nhận ở khu vực nghiên cứu; thêm vào đó, giống Pheretima sensu stricto lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam và loài Metphire mangophila (Nguyen, 2011) được điều chỉnh thành tên đồng vật của Metaphire easupana (Thai & Huynh, 1993). Về cấu trúc thành phần loài, họ Megascolecidae chiếm ưu thế tuyệt đối với 22 loài (chiếm 84,60%); các họ còn lại Almidae, Rhinodrilidae, Moniligastridae và Octochaetidae mỗi họ có 1 loài. Giống Metaphire (12 loài) và giống Amynthas (5 loài) chiếm ưu thế so với các giống còn lại; giống Polypheretima không phân bố ở vùng nội địa của khu hệ này. Khu vực nghiên cứu có độ tương đồng về thành phần loài giữa các địa hình cao (> 60%), trong khi đó độ tương đồng về thành phần loài giữa các sinh cảnh tương đối thấp (29,91% – 53,76%). Chỉ số ưu thế của các loài giun đất ở khu vực nghiên cứu thấp (λ < 0,24), tuy nhiên M. bahli, A. polychaetiferus và M. houlleti có độ phong phú cao hơn các loài còn lại.

Trích dẫn: Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Quốc Nam, Trương Thuý Ái và Nguyễn Phúc Hậu, 2017. Đa dạng loài và đặc điểm phân bố giun đất ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 53a: 96-107.

Các bài báo khác
Số 32 (2014) Trang: 106-119
Tải về
Số 22a (2012) Trang: 143-153
Tải về
Số 10 (2008) Trang: 59-66
Tải về
Số 45 (2016) Trang: 97-109
Tải về
38(4) (2016) Trang: 442-448
Tạp chí: Tạp chí Sinh học
1 (2012) Trang: 202
Tạp chí: Nghiên cứu giảng dạy Sinh học
57 (2012) Trang: 72
Tạp chí: Che Bio Sci
1 (2012) Trang: 385
Tạp chí: Nghiên cứu giảng dạy Sinh học
 

Crossref DOI of CTUJoS


BC thường niên 2018


Con số ấn tượng (VN | EN)


Bản tin ĐHCT


TCKH tiếng Việt


TCKH tiếng Anh

 
 
Vui lòng chờ...