Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Chờ xuất bản
Tạp chí trong nước 2019
Số tạp chí Số 11 (108)(2019) Trang: 188-195
Tạp chí: Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam

Nghiên cứu đã được thực hiện dựa vào cách tiếp cận liên kết chuỗi giá trị (CGT) valuelinks của GTZ (Deutsche Gesellschaft für Technische Zusammenarbeit - Đức), thông qua các cuộc khảo sát tất cả các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị tôm thẻ chân trắng (TCT) tại 4 tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng và Kiên Giang. Cụ thể đã khảo sát 67 đại lý và trang trại cung cấp con giống, thức ăn và thuốc thủy sản; 191 hộ nuôi tôm TCT theo hình thức thâm canh; 53 thương lái và chủ vựa; 8 doanh nghiệp chế biến xuất khẩu (DNCBXK) và 54 chuyên gia trong ngành, cán bộ kỹ thuật và lãnh đạo các địa phương. Hai công cụ được sử dụng chính trong nghiên cứu này là lập sơ đồ CGT và phân tích kinh tế chuỗi. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 khâu và 10 kênh phân phối trong CGT tôm TCT ở vùng Tây Nam Bộ (TNB). Trong đó, tôm TCT phần lớn được tiêu thụ qua kênh phân phối: Hộ nuôi è Thương lái è Đại lý è DNCBXK è Người tiêu dùng nước ngoài (xuất khẩu). Có 3 sản phẩm tôm TCT xuất khẩu chính, bao gồm: tôm TCT xuất khẩu nguyên con đông lạnh (HOSO), tôm TCT xuất khẩu bỏ đầu, đông lạnh (HLSO) và tôm TCT xuất khẩu bỏ đầu, lột vỏ, còn đuôi (PTO). Trong đó, tôm PTO tạo được giá trị gia tăng và lợi nhuận cao nhất. Tuy nhiên,phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân  tham gia trong CGT của loại sản phẩm này chưa thực sự hợp lý, theo hướng bất lợi cho các hộ nuôi. Cụ thể, các hộ nuôi chỉ nhận được 38,8% lợi nhuận, trong khi đó các DNCBXK nhận được 55,8% tổng lợi nhuận trên 1 tấn tôm TCT nguyên liệu. Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, cải thiện kênh phân phối thông qua các hoạt động liên kết ngang và liên kết dọc, cũng như cắt giảm chi phí sản xuất tôm nguyên liệu là hai giải pháp hữu hiệu để nâng cấp CGT tôm TCT ở vùng TNB.

Các bài báo khác
Số tạp chí 63(2019) Trang: 147-154
Tạp chí: Đại học Sư phạm Hà Nội
Số tạp chí 05(2019) Trang: 27-31
Tạp chí: TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐÀO TẠO VÀ HUẤN LUYỆN THỂ THAO
Số tạp chí 18(4)(2019) Trang: 51-61
Tạp chí: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển
Số tạp chí Nov. 16(2019) Trang: 338-347
Tạp chí: International workshop 2019 on trade and science technology development in the Mekong Delta in context of international integration
Số tạp chí 249(2019) Trang: 125-130
Tạp chí: Tạp chí Khoa học Kỹ Thuật Chăn nuôi


Vietnamese | English






 
 
Vui lòng chờ...