Đăng nhập
 
Tìm kiếm nâng cao
 
Tên bài báo
Tác giả
Năm xuất bản
Tóm tắt
Lĩnh vực
Phân loại
Số tạp chí
 

Bản tin định kỳ
Báo cáo thường niên
Tạp chí khoa học ĐHCT
Tạp chí tiếng anh ĐHCT
Tạp chí trong nước
Tạp chí quốc tế
Kỷ yếu HN trong nước
Kỷ yếu HN quốc tế
Book chapter
Bài báo - Tạp chí
Số 40 (2015) Trang: 31-37
Tải về

Thông tin chung:

Ngày nhận:09/03/2015

Ngày chấp nhận: 28/10/2015

Title:

Effects of Trafish (Pangasius hypophthalmus) by-product fat in diets of commercial laying hens on egg performance, quality and culling body weight

Từ khóa:

Khối lượng trứng, tỷ lệ đẻ, gà mái đẻ Hisex Brown, mỡ cá tra

Keywords:

Egg weight, egg production, laying hens, Trafish by-product fat

ABSTRACT

An experiment was conducted to evaluate the effects of Trafish by-product fat on egg production, quality and culling body weight of Hisex Brown laying hens from 62 to 72 weeks of age in commercial raising system. The study was allocated according to a completely randomized design with Trafish by-product fat (MC) added at 0% (MC0), 2% (MC2), 4% (MC4) and 6% (MC6) in the diets. Results showed that the supplementation of MC did not affect egg production (P=0,46), but egg weight of laying hens was significantly improved as compared with the control diet (P=0,01). Feed intake/day was lowest in the MC6 (109,5 g/day) and highest in the MC0 (114,2 g/day). There were no significant differences among egg quality parameters, but egg yolk index and proportion, yolk color were improved in higher MC level diets. The Trafish by-product fat increased culling body weight (1,98-2,02 kg/hen) compared with the control (1,96 kg/hen). It may be concluded that the supplementation of Trafish by-product fat in the laying hen diets at 2 to 4% improved egg weight and quality. Moreover, the culling body weight of laying hens in MC supplemented diets was more suitable to the demand of buyer for slaughter.

TÓM TẮT

Thí nghiệm được tiến hành để đánh giá ảnh hưởng của mỡ cá tra lên năng suất, chất lượng trứng và khối lượng loại thải gà mái Hisex Brown giai đoạn 62-72 tuần tuổi, trước khi loại thải gà mái nuôi công nghiệp. Đề tài được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với mức độ bổ sung 0% (MC0), 2% (MC2), 4% (MC4) và 6% (MC6%) mỡ cá tra trong khẩu phần. Kết quả cho thấy khi bổ sung mỡ cá tra cho gà mái đẻ giai đoạn từ 62-72 tuần tuổi thì không cải thiện được tỷ lệ đẻ của gà mà làm tăng khối lượng trứng gà so với đối chứng. Tiêu tốn thức ăn hàng ngày thấp nhất ở khẩu phần MC6 (109,5 g/ngày) và cao nhất ở khẩu phần không bổ sung mỡ cá MC0 (114,2 g/ngày). Chất lượng trứng không bị ảnh hưởng bởi việc bổ sung mỡ cá, ngoại trừ chỉ số lòng đỏ, tỷ lệ lòng đỏ và màu sắc lòng đỏ được cải thiện khi bổ sung mỡ cá tra. Khối lượng gà cuối thí nghiệm được cải thiện khi bổ sung mỡ cá tăng từ (1,98-2,02 kg/con) so với khối lượng gà (1,96 kg/con) ở nghiệm thức không bổ sung mỡ cá. Có thể kết luận rằng việc bổ sung mỡ cá tra vào khẩu phần ăn của gà mái ở mức 2 và 4 % vào giai đoạn cuối trước khi xuất bán gà mái loại đã cải thiện được khối lượng và chất lượng trứng. Khối lượng gà mái loại thải tốt hơn ở các khẩu phần bổ sung mỡ cá và phù hợp với yêu cầu của người thu mua để giết mổ.

 

Các bài báo khác
Số 49 (2017) Trang: 1-8
Tải về
Vol. 54, No. 8 (2018) Trang: 17-23
Tải về
Số 24a (2012) Trang: 206-211
Tải về
Số 24b (2012) Trang: 56-63
Tải về
Số 43 (2016) Trang: 74-81
Tải về
Volume 31(10), (2019) Trang: Article 159
Tạp chí: Livestock Research for Rural Development
No 247 (August. 2019), (2019) Trang: 66-70
Tạp chí: Journal of Animal Husbandry Sciences and Technics (JAHST),
No 247 (August. 2019), (2019) Trang: 44-48
Tạp chí: Journal of Animal Husbandry Sciences and Technics (JAHST)
235 (August 2018), (2018) Trang: 33-37
Tạp chí: Journal of Animal Science and TechnologyJournal of Animal Husbandry Sciences and Technics (JAHST)
số 78, tháng 8/2017 (2017) Trang: 14-21
Tạp chí: Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi.
223 (August 2017), (2017) Trang: 32-37
Tạp chí: Tạp chí KHKT Chăn nuôi
29 (6) (2017) Trang: Article 124
Tạp chí: Livestock Research for Rural Development
12/2015 (2015) Trang: 43-51
Tạp chí: Kỹ yếu Hội nghị Chăn nuôi Bền Vũng, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam 12/2015
 


Vietnamese | English






 
 
Vui lòng chờ...